Bước tới nội dung

William Shakespeare

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

William Shakespeare
Chân dung Shakespeare, không rõ tác giả, National Portrait Gallery, Luân Đôn, Vương quốc Anh.
Chân dung Shakespeare, không rõ tác giả, National Portrait Gallery, Luân Đôn, Vương quốc Anh.
SinhLàm lễ rửa tội ngày 26 tháng 4, 1564 (sinh ngày 23 tháng 4 năm 1564)
Anh Stratford-upon-Avon, Warwickshire, Anh
Mất23 tháng 4 năm 1616 (lịch Julius) 3 tháng 5 năm 1616 (lịch Gregorius) (52 tuổi)
Anh Stratford-upon-Avon, Warwickshire, Anh
Nghề nghiệpNhà viết kịch, nhà thơ, diễn viên
Giai đoạn sáng tácPhục hưng Anh
Phối ngẫuAnne Hathaway (từ 1582-1616)
Con cáiSusanna Hall
Hamnet Shakespeare
Judith Quiney
Người thânJohn Shakespeare (thân phụ)
Mary Shakespeare (thân mẫu)
Chữ ký

William Shakespeare (tên phiên âm: Quy-li-am Sếch-xpia, không rõ ngày sinh của ông, nhưng theo truyền thống được ghi nhận là vào ngày 23 tháng 4 năm 1564, ngày thánh George; mất ngày 23 tháng 4 năm 1616 theo lịch Julius (hoặc ngày 3 tháng 5 năm 1616 theo lịch Gregorius)) là một nhà vănnhà viết kịch người Anh, được đánh giá là nhà văn vĩ đại nhất của Anh và là nhà viết kịch đi trước thời đại[1] và nổi tiếng với các tác phẩm như Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Hăm-lét, Ô-ten-lô,... Ông còn được vinh danh là nhà thơ tiêu biểu của nước Anh và là "Thi sĩ của dòng sông Avon" (Avon là dòng sông nơi sinh của Shakespeare, Stratford-upon-Avon).[2] Những tác phẩm của ông, bao gồm cả những tác phẩm đồng tác giả, bao gồm 39 vở kịch, 154 bản sonnet, hai bản trường ca, và vài bài thơ ngắn. Những vở kịch của ông đã được dịch ra thành rất nhiều ngôn ngữ lớn và được trình diễn nhiều hơn bất kì nhà viết kịch nào.[3]

Shakespeare được sinh ra và lớn lên tại Stratford-upon-Avon. Vào năm 18 tuổi, ông kết hôn với Anne Hathaway và có ba người con, đó là Susanna Hall và cặp đôi song sinh, Hamnet Shakespeare và Judith Quiney. Trong những năm từ 1585-1592, sự nghiệp của ông thành công vang dội tại thủ đô Luân Đôn với vai trò là một diễn viên, nhà văn và đôi lúc là người sở hữu của một công ty kịch Lord Chamberlain's Men, với tên gọi sau đó là King's Men. Ông quay về quê Stratford để nghỉ hưu vào năm 1613, lúc ông 49 tuổi, sau đó 3 năm ông qua đời tại đấy. Số ít tài liệu về cuộc sống của ông tại đây đã được tìm thấy, được suy đoán là về các vấn đề thể chất, tình dục, tín ngưỡng, tôn giáo, và được cho là do những người khác có quan hệ gần gũi với ông ghi chép lại.[4]

Hầu hết các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông được ông sáng tác trong giai đoạn từ 1589 đến 1613.[5] Những vở kịch đầu tiên của ông chủ yếu là hài kịch và kịch lịch sử, những thể loại này được ông tăng lên sự tinh tế của nghệ thuật vào cuối thế kỉ XVI. Sau đó, ông sáng tác chủ yếu là bi kịch đến năm 1608, bao gồm các tác phẩm Hamlet, Vua Lear, OthelloMacbeth, gồm một vài tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bằng tiếng Anh. Trong giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp sáng tác, ông sáng tác những vở chính kịch (tragicomedies) và đồng thời hợp tác với một số nhà viết kịch khác.

Nhiều vở kịch của ông được tái bản nhiều lần với các chất lượng khác nhau và một cách chính xác trong suốt cuộc đời của ông. Năm 1623, hai đồng nghiệp cũ của Shakespeare, cũng làm việc trên sân khấu kịch, xuất bản First Folio, một tập hợp tất cả các vở kịch được coi là của ông. Nhưng đến nay, chỉ có hai trong tổng số đó được công nhận là của Shakespeare.

Cuộc đời và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]
Căn nhà của John Shakespeare, thân phụ của William Shakespeare tại Stratford-upon-Avon. Đây được tin là nơi sinh của nhà văn.

William Shakespeare là con trai của John Shakespeare, một người thợ làm găng tay và ủy viên hội đồng địa phương đến từ Snitterfield và Mary Arden, con gái của một chủ đất giàu có.[6] Ông được sinh ra tại Stratford-upon-Avon và được rửa tội vào ngày 26 tháng 4 năm 1564 tại đó. Ngày sinh thật sự của ông vẫn chưa rõ, nhưng những báo cáo ban đầu là ngày 23 tháng 4 năm 1564, ngày của thánh George (St. George's Day).[7] Ông là con thứ ba trong tổng số tám người con của gia đình Shakespeare và là lớn nhất trong những người con còn sống sót.[8]

Mặc dù không còn những ghi chép về quãng đời đầu tiên của ông, nhưng các nhà nghiên cứu về tiểu sử của ông đồng ý rằng Shakespeare được giáo dục tại King's New Grammar School (Trường Văn phạm mới của nhà Vua) ở Stratford,[9] một ngôi trường miễn học phí thành lập năm 1553,[10] cách nhà ông khoảng một phần tư dặm. Vào thời Nữ hoàng Elizabeth, các trường dạy ngữ pháp có chất lượng không đồng nhất nhưng có một khuôn mẫu chương trình được quy định bởi luật pháp áp dụng trên toàn nước Anh,[11] và trường cũng cung cấp chương trình giáo dục chuyên sâu về ngữ pháp tiếng Latinh và những tác giả cổ điển trong tiếng Latinh.

Hôn nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 18 tuổi, Shakespeare kết hôn với Anne Hathaway, lớn hơn ông đến 8 tuổi. Chúng ta biết rất ít về bà, nhiều khả năng bà là con cả trong gia đình Hathaway làng Shottery, gần Stratford. Giáo hội của Worcester đồng ý cho phép tổ chức lễ cưới vào ngày 27 tháng 11, 1582. Sáu tháng sau khi kết hôn, Anne sinh được một người con gái, Susanna, được rửa tội vào ngày 26 tháng 5 năm 1583.[12] Cặp song sinh một trai Hamnet và một gái Judith được sinh ra hai năm sau đó và được rửa tội vào ngày 2 tháng 2 năm 1585.[13] Hamnet mất vì một nguyên nhân không rõ vào năm 11 tuổi và được mai táng vào ngày 11 tháng 8 năm 1596. Nhân vật anh hùng trong vở bi kịch Hamlet của Shakespeare được đặt theo tên người con Hamnet của ông.[14]

"Những năm mất tích" (1582-1585)

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm đầu hôn nhân của Shakespeare cho đến năm 1585, hầu hết mọi thông tin về Shakespeare rất mơ hồ bí ẩn, người ta gọi đó là "Những năm mất tích". Người ta phỏng đoán rằng ông hành nghề thầy cãi vì các vở kịch của ông thể hiện kiến thức luật pháp. Cũng có thể Shakespeare đã làm thợ làm vườn vì các nhân vật trong nhiều tác phẩm của ông am hiểu nhiều về thiên nhiên. Hoặc ông đã tham gia vào công việc của gia đình, buôn bán len và lúa mạch, làm găng tay... Nhiều khả năng ông không làm thầy thuốc, trong vở kịch Macbeth có lời thoại "Hãy đem thuốc mà đổ cho chó."[15]

Thời ấy, ở Anh thường có các gánh hát lưu động đi lưu diễn ở các miền quê. Một ngày nọ, Shakespeare bắt đầu bị hấp dẫn bởi sân khấu kịch và các gánh hát lưu động, với tài năng văn chương trời phú, ông đã rời quê hương lên kinh đô Luân Đôn, tìm kiếm tiền đồ và sự nghiệp cho mình.[16]

Đến Luân Đôn

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1585, ông rời quê lên Luân Đôn đang lúc kịch trường ở chốn kinh kỳ trong thời kỳ sôi nổi, nước Anh đang dưới sự trị vì của Nữ hoàng Elizabeth I.Lúc ở kinh thành Luân Đôn, ông được Bá tước Southampton giúp đỡ. Dưới mái nhà của bá tước, có một người Ý lưu vong là Giovani Florio. Chính Florio đã giúp Shakespeare hiểu biết thêm về văn học Phục Hưng của ÝPháp. Cuộc sống đang êm đềm thì xảy ra biến cố. Đó là vụ án Essex và Southampton (1601). Essex bị kết tội gây loạn chống triều đình Elizabeth I. Shakespeare cũng bị tình nghi có liên quan vì vở kịch Richard III được diễn ra một hôm trước đó. Essex bị tử hình, Southampton bị tù chung thân, còn Shakespeare trốn biệt[cần dẫn nguồn].

Vào năm 1603, Elizabeth I qua đời, Quốc vương nước ScotlandJames VI lên nối ngôi và trở thành Quốc vương James I của nước Anh; khi đó Bá tước Southampton được trả tự do và trọng dụng. Shakespeare xuất hiện trở lại với đoàn kịch của mình và được triều đình hậu đãi.

Đôi khi các vở kịch được viết nên để ca tụng và gây ấn tượng cho các bậc vua chúa. Khi Shakespeare soạn các vở kịch lịch sử, ông phải đảm bảo cân nhắc sao cho vở kịch không mạo phạm đến hoàng gia. Vì vậy, ông phải thay đổi thời gian và các sự kiện lịch sử để tạo hình ảnh tốt đẹp cho gia tộc Tudor - gia tộc của Nữ hoàng Elizabeth I. Đến khi James I lên ngôi, ông cũng làm điều tương tự với gia tộc Stuart.

Trước đó vào năm 1588, vua Tây Ban Nha phái hạm đội Armada sang xâm lược nước Anh nhưng đã thất bại. Có thể Shakespeare

Vào thời Nữ hoàng Elizabeth I, phục trang vượt quá vai vế xã hội bị coi là phạm pháp. Chỉ các diễn viên mới có thể phá lệ, diện trang phục như các bậc vua chúa quý tộc để biểu diễn. Chi phí được đầu tư cho nhiều bộ trang phục lộng lẫy, và các chuyên gia chế tạo ra chúng được coi là những nhân vật quan trọng.

Cuối đời

[sửa | sửa mã nguồn]
Chữ ký của Shakespeare trong tờ di chúc

Vào năm 1612, Shakespeare rời kinh đô Luân Đôn trở về quê hương sau bao năm theo đuổi sự nghiệp viết kịch và hoạt động sân khấu. Có thể ông đã nhận thấy sân khấu kịch Anh ngày sàng sa sút vào con đường quý tộc hoá, và với số tài sản tích góp được sau nhiều năm cũng đủ để ông mua một căn nhà ở thị trấn quê hương, sống những năm cuối đời. Ngày 25 tháng 3 năm 1616, Shakespeare hoàn thành tờ di chúc của mình, sức khỏe của ông không được tốt và ông đã qua đời một tháng sau đó. Ông mất ngày 23 tháng 4 năm 1616. Trong di chúc, ông để lại hầu hết tài sản cho cô con gái Susanna, và ông yêu cầu trên bia mộ của mình phải được viết những dòng chữ này:

Ngày nay, ở thị trấn Stratford quê hương ông, người ta thành lập Công ty kịch nghệ Shakespeare Hoàng gia, còn căn nhà nơi ông sinh sống giờ đây trở thành Viện bảo tàng Shakespeare, như để kỉ niệm cuộc đời và sự nghiệp của nhà viết kịch vĩ đại này.[18]

Tác phẩm

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đời mình, Shakespeare viết hơn 40 vở kịch, tất cả đều dưới dạng thơ, và được chia thành ba loại:

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  • ^[a] Nay thường được xếp vào một loại mới: Romances
  • ^[b] Kịch về các vấn đề xã hội
  • ^[c] Được xem là của Shakespeare

Tầm ảnh hưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Cống hiến của Shakepeare in đậm dấu ấn lên kịch nghệvăn chương các thế hệ sau. Ví như ông đã phát triển kịch nghệ cả về xây dựng nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữthể loại. Cho tới trước vở Romeo và Juliet, lãng mạn không được xem là đề tài giá trị đối với bi kịch. Độc thoại đã từng được sử dụng chủ yếu để truyền đạt thông tin về nhân vậtsự kiện nhưng Shakespeare đã sử dụng nó để khám phá tâm trí nhân vật. Tác phẩm của Shakepeare ảnh hưởng sâu sắc tới thi ca thế hệ sau. Rõ ràng, ông vĩ đại hơn hẳn các nhà viết kịch lớn của Pháp trước thời ông như Racine hay Molière.[19] Những nhà thơ trường phái lãng mạn đã nỗ lực để làm sống lại kịch thơ Shakespeare, dù đạt được rất ít thành công. Nhà phê bình Gorge Steiner phát biểu rằng tất cả các vở kịch thơ từ Coleridge đến Tennyson chỉ là những "phiên bản mờ nhạt viết dựa trên các chủ đề của Shakespeare". Tuy nhiên, vào thế kỷ XVIII, đại văn hào nước PhápVoltaire (FranÇois-Marie Arouet, 16941778) – khi phân tích về kịch nghệ của Shakespeare cũng như những nhà soạn kịch nổi tiếng khác – đã phê phán ông, theo đó ông chỉ đáng được tôn vinh tại Anh:[20]

Voltaire cũng bảo Shakespeare là "quái vật" tuy nhiên, bảo đại văn hào Pháp không bao giờ biết khen ngợi ông thì thật sai lầm. Voltaire luôn luôn cho rằng, ông là một nhà soạn kịch "có bản chất cao đẹp, mặc dù tởm lợm". Thời đó, Quốc vương Friedrich II (tức Friedrich Đại Đế, 17121786) – vị đại anh quân của nước Phổ và cũng chính là bạn thân của Voltaire[21] chỉ có thể đọc Shakespeare bằng các bản dịch tiếng Pháp. Vào năm 1780, xuất bản tác phẩm "De la littérature allemande". Qua đó, ông phê phán "các tác phẩm ghê tởm" của Shakespeare:[22][23]

Vị Quốc vương này chỉ trích Shakespeare còn thậm tệ hơn cả Voltaire: "Làm sao đống tác phẩm quái đản nửa đê tiện nửa cao thượng, nửa bi thảm nửa hài hước, lại thu hút ai được?"[25] Song, Shakespeare đã ảnh hưởng lên những nhà viết tiểu thuyết Thomas Hardy, William FauknerCharles Dickens. Dickens thường trích dẫn Shakespeare, có thể rút ra 25 trong số các tựa tác phẩm của ông là lấy từ các tác phẩm của Shakespeare. Ngay từ thế kỷ XVIII, dù bị một đại anh quân nước Phổ và một đại văn hào nước Pháp phê phán dữ dội, trớ trêu thay, Shakespeare lại truyền cảm nền văn hóa nghệ - thuật khắp châu Âu, và trớ trêu hơn nữa - ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với nền văn nghệ Đức, nhà thơ Johann Gottfried Herder đã tán dương tài năng viết kịch của ông "như thần thánh".[26] Như doanh nhân nước Đức Ludwig Reiners (1896 - 1957) viết vào năm 1952, các đại văn hào Đức thời Friedrich II Đại Đế đã "bắt chước những vở kịch tồi tệ, nhảm nhí và chán ngắt của Shakespeare".[27] Trước tình cảnh đó, Quốc vương Friedrich II Đại Đế – với thái độ công kích nền văn hóa Đức (kể cả tác phẩm duy nhất mà ông biết của đại thi hào Goethe chịu ảnh hưởng của Shakespeare[25]) – lại phải viết:[28]

Nạn nhân cho những màn nhại lại (parody) đầy thâm thúy

[sửa | sửa mã nguồn]

William Shakespeare có tầm ảnh hưởng cực kỳ sâu rộng đối với loạt phim hài kịch tình huống kinh điển của Anh, Blackadder (1983-1989) của nam diễn viên Rowan Atkinson. Shakespeare không chỉ là nguồn cảm hứng bối cảnh, mà tác phẩm của ông còn là chất liệu để loạt phim này thực hiện các màn châm biếm, nhại lại đầy thông minh.

Mùa đầu tiên, The Black Adder (1983), được phát sóng chỉ vài tháng sau khi BBC hoàn thành chuỗi sản xuất quy mô lớn cho các vở kịch lịch sử về Chiến tranh Hoa Hồng của Shakespeare, bao gồm ba phần của Henry VI và Richard III. Sự trùng hợp về mặt thời gian này biến loạt phim thành một cuộc đối thoại giễu nhại trực tiếp với các dự án chính kịch hàn lâm của đài truyền hình quốc gia. Để tăng tính châm biếm, ê-kíp sản xuất đã sử dụng lại chính các diễn viên từ các bản dựng Shakespeare của BBC. Ron Cook, người thủ vai Richard III trong bản chính kịch, đã truyền cảm hứng trực tiếp cho ngoại hình lấm lét, mái tóc và phong thái của nhân vật Edmund Blackadder (do Rowan Atkinson thủ vai) .Đồng thời, Peter Benson, người đóng vai Henry VI của Shakespeare, lại được giao vai Henry VII trong tập mở màn của Blackadder.

Sự chiếm đoạt văn bản diễn ra ngay từ tập đầu tiên "The Foretelling", kiến tạo một lịch sử thay thế nơi Richard III (do Peter Cook thủ vai) là một vị vua nhân hậu, dũng cảm nhưng lại tự hạ thấp mình, trái ngược hoàn toàn với hình tượng bạo chúa gù lưng tự căm ghét bản thân của Shakespeare. Bài độc thoại mở đầu của Richard III trong phim là sự đảo ngược hài hước của vở kịch gốc, chuyển từ mùa đông của sự bất mãn sang mùa hè của sự mãn nguyện ngọt ngào bị che phủ bởi những đám mây nhà Tudor. Trong trận chiến Bosworth, vị vua này đã trộn lẫn một cách hỗn loạn hai bài phát biểu nổi tiếng trong vở Henry V về lòng dũng cảm trên chiến trường. Cái chết của ông do Edmund vô tình chém đầu khi đang mượn ngựa, kèm theo tiếng kêu tuyệt vọng đòi đổi vương quốc lấy một con ngựa, mở đầu cho chuỗi bi kịch đầy tiếng cười. Sau đó, Thái tử Harry đã thương tiếc ông bằng cách nhại lại lời tiễn biệt nổi tiếng dành cho Hamlet về những chuyến bay của thiên thần đưa tiễn nhà vua về nơi an nghỉ.

Sự phát triển nhân vật Edmund Blackadder cũng gắn liền với kịch nghệ Shakespearean. Edmund được đặt tên theo nhân vật Edmund trong vở King Lear, đứa con ngoại hôn phản nghịch của Bá tước Gloucester, kẻ luôn âm mưu chống lại cha và người anh hợp pháp Edgar. Sự tương phản giữa dòng họ Blackadder hư cấu và vương triều Blackadder có thật trong lịch sử Scotland càng làm nổi bật tính chất giễu nhại lịch sử. Ở cuối mùa 1, tập "The Black Seal", ngay trước khi Edmund chết vì uống phải thuốc độc (một sự mô phỏng trực tiếp kết thúc bi thảm của vở Hamlet), cha của anh đã gọi anh là "Edgar" – một cái gật đầu đầy châm biếm về sự nhầm lẫn danh tính trong King Lear.

Các vở kịch khác cũng được đưa vào cấu trúc tự sự của mùa đầu tiên một cách có hệ thống. Trong "Born to be King", phân cảnh Edmund hoang tưởng về chiếc dao găm và vở kịch nội bộ mô phỏng trực tiếp vở Hamlet cùng những câu thoại liên quan đến ngày định mệnh trong Julius Caesar. Ở tập "The Queen of Spain's Beard", kế hoạch cải trang bằng trang phục của Edmund là sự giễu nhại cốt truyện Đêm thứ mười hai. Thậm chí, ba mụ phù thủy trong rừng gặp Edmund lại được đặt tên là Goneril, Regan và Cordelia (ba cô con gái của Vua Lear), nhưng lại đưa ra những lời tiên tri nhầm lẫn tương tự ba mụ phù thủy trong Macbeth. Sự hiện diện dày đặc này lý giải vì sao phần credit cuối phim của mùa 1 ghi nhận một cách trào phúng rằng Shakespeare chịu trách nhiệm cho các phần lời thoại bổ sung.

Bước sang Blackadder II (1986), bối cảnh triều đại Elizabeth I tạo điều kiện cho các nhà biên kịch Richard CurtisBen Elton khai thác sâu hơn vào ngôn ngữ và mô-típ kịch Phục hưng. Việc giễu nhại giờ đây không còn dừng lại ở việc nhại câu chữ đơn thuần mà đi sâu vào việc giải cấu trúc các mô-típ nhân vật truyền thống.

Tập phim mở màn "Bells" là sự tri ân trực tiếp đối với vở Đêm thứ mười haiAs You Like It qua nhân vật Kate. Cô cải trang thành một chàng trai tên "Bob" để kiếm sống và khiến Edmund rơi vào một cuộc khủng hoảng tình cảm hài hước khi anh đem lòng yêu "cậu thiếu niên" này. Diễn viên Tim McInnerny tiết lộ rằng vai diễn Lord Percy ngốc nghếch của ông được lấy cảm hứng trực tiếp từ nhân vật Sir Andrew Aguecheek trong Đêm thứ mười hai. Nhân vật Nursie với những câu chuyện dung tục về tình dục là sự giễu nhại Vú nuôi trong Romeo and Juliet. Cả hai vai diễn này đều được đảm nhiệm bởi cùng một nữ diễn viên Patsy Byrne (bà từng đóng Vú nuôi trong bản dựng của Thames Television năm 1976). Đoạn thoại của Sir Thomas More về giới tính sinh học cũng liên kết trực tiếp đến vở kịch Sir Thomas More, tác phẩm mà Shakespeare được cho là đã tham gia đồng sáng tác. Tiêu đề tập phim "Bells" và câu thoại chúc tụng Kate là lời gợi nhắc rõ ràng đến The Taming of the Shrew.

Sự chuyển thế mô-típ tiếp tục xuất hiện trong tập "Head", nơi cốt truyện chính phản chiếu vở kịch Measure for Measure khi Edmund tìm cách tráo đổi thủ cấp để che giấu việc hành quyết không thành. Lời thoại của nhân vật khi nói về sự sủng ái của Nữ hoàng dành cho Robert Deveraux (Bá tước vùng Essex, người được ngợi ca trong Henry V) củng cố tính chất lịch sử liên văn bản của loạt phim.

Trong tập "Money", sự xuất hiện của gã ăn mày điên Tom, kẻ liên tục than vãn về cái lạnh, trực tiếp chế giễu màn cải trang của Edgar thành Tom o'Bedlam trong King Lear. Lord Percy cũng bóp méo câu thơ lãng mạn trong Richard II khi đề xuất ngồi trên thảm và kể những câu chuyện buồn. Trò đùa về Shakespeare đạt đến đỉnh điểm khi Edmund sỉ nhục trí tuệ của Baldrick bằng cách nói rằng hắn là kẻ sẽ cười trước một vở hài kịch của Shakespeare, vạch trần sự lỗi thời của những trò hài hước thời Elizabeth đối với công chúng hiện đại. Cuối tập phim, bài hát ballad kết thúc đã mượn lời khuyên nổi tiếng của Polonius trong Hamlet về việc không nên vay hay cho vay tiền.

Tập "Beer" giới thiệu hình ảnh Nữ hoàng Elizabeth cải trang để đi uống bia cùng thần dân, mô phỏng hành động cải trang của Vua Henry V trong đêm trước trận Agincourt. Ở tập "Chains", sự xuất hiện của Lord Melchett dưới cương vị Lord Chamberlain phản ánh một chi tiết lịch sử thực tế: vào cuối triều đại Elizabeth I, người nắm giữ chức vụ Lord Chamberlain là Henry Carey, em họ của Nữ hoàng và đồng thời là người bảo trợ cho đoàn kịch của Shakespeare (The Lord Chamberlain's Men). Lời thoại trong tập này cũng trích dẫn trực tiếp từ King Lear về việc con người chỉ như những bộ phận nhạy cảm trước các vị thần.

Blackadder the Third (1987) tập trung châm biếm tính chất tự phụ của giới diễn viên kịch nghệ và những mê tín trong nhà hát thông qua tập phim "Sense and Senility".

Bối cảnh lịch sử thời kỳ Nhiếp chính (Regency) được khắc họa chân thực qua cuộc bạo động của một người thuộc phong trào Luddite (do Ben Elton thủ vai). Kẻ vô chính phủ này ném bom vào Thái tử George và hét lớn yêu cầu đập tan máy dệt Spinning Jenny, thiêu rụi nàng Rosalind lăn lộn và tiêu diệt Gertrude lên xuống dịch chuyển. Lời thoại này là một sự kết hợp ngôn ngữ cực kỳ tinh tế giữa máy móc công nghiệp thời kỳ đầu và tên các nhân vật nữ nổi tiếng của Shakespeare (Rosalind trong As You Like It và Gertrude trong Hamlet). Vụ tấn công khiến Thái tử George rơi vào trạng thái hoang tưởng cực độ, liên tục cố gắng siết cổ Baldrick mỗi khi thấy hắn dọn dẹp, mặc dù Baldrick chỉ đang làm những công việc dọn dẹp bình thường như lau giày, cọ cà rốt và bắp cải một cách vô hại trong góc phòng.

Để cải thiện hình ảnh trước công chúng, Edmund đề xuất Thái tử viết một bài phát biểu và thuê hai diễn viên kịch tự phụ Keanrick (Hugh Paddick) và Mossop (Kenneth Connor) đến dạy hùng biện. Sự tương tác giữa Edmund và hai diễn viên này đã bộc lộ những trò đùa sâu cay nhất về sự mê tín sân khấu đối với "vở kịch Scotland" (Macbeth). Mỗi khi Edmund cố tình nói từ "Macbeth", hai diễn viên bắt buộc phải thực hiện trò vỗ tay pattycake và tụng câu chú trừ tà đau đớn:

"Hot potato, orchestra stalls, Puck will make amends!" ( "Khoai tây nóng, hàng ghế khán giả, Puck sẽ chuộc lỗi!")

Nghiên cứu về lịch sử phát sóng cho thấy sự tranh luận thú vị xung quanh phụ đề của câu chú này: bản DVD tại Mỹ ghi là "orchestra stalls, Puck will make amends" (nhắc đến nhân vật Puck trong A Midsummer Night's Dream), bản DVD tại Anh ghi là "off his drawers, pluck to make amends" (phù hợp với hành động nhổ tóc mũi gây đau đớn của hai diễn viên), trong khi bản phát sóng gốc của BBC ghi là "orchestra stalls, but we'll make amends!". Chi tiết Baldrick kể rằng chú của mình từng đóng vai "chiếc bao che hạ bộ thứ hai" (second codpiece) trong vở Macbeth càng làm tăng tính châm biếm đối với sự thiêng liêng của tác phẩm này.

Màn kịch nội bộ mà Keanrick và Mossop tập luyện có tên "The Bloody Murder of the Foul Prince Romero and His Enormously Bosomed Wife" là sự giễu nhại phóng đại các vở bi kịch trả thù đẫm máu của Shakespeare. Buổi diễn thử mở đầu bằng câu thoại đầy kịch tính về mùa xuân đến cùng những cơn mưa dịu dàng. Khi Edmund quyết định bỏ việc vì bị xúc phạm và đặt cược với Baldrick rằng hắn không thể tự xoay xở trong 5 phút, anh đã quay lại sau đúng 4 phút 22 giây để thu tiền cược. Trong thời gian ngắn ngủi đó, Baldrick vì không hiểu bản chất của kịch nghệ nên đã tưởng lầm buổi diễn thử của hai diễn viên là một âm mưu ám sát Thái tử George ngoài đời thực. Edmund đã lợi dụng sự kém cỏi trong việc phân biệt hư cấu và thực tại của Thái tử để buộc tội hai diễn viên phản quốc, sử dụng chính kịch bản của họ làm bằng chứng tội phạm, dẫn đến việc họ bị bắt giữ và hành quyết. Điều này cho thấy văn bản kịch nghệ trong thế giới Blackadder không chỉ là nghệ thuật, mà còn là công cụ chính trị nguy hiểm có thể bị bóp méo bởi những kẻ có quyền lực.

Bên cạnh đó, tập phim còn giễu nhại vở Julius Caesar qua chi tiết Thái tử George hét lên cảnh báo Caesar nhìn lại phía sau trong cảnh ám sát , và việc nhân vật Brutus được thủ vai bởi một diễn viên tên Kemp – một sự gợi nhắc đến William Kempe, diễn viên hài nổi tiếng trong đoàn kịch của Shakespeare.

Tầm ảnh hưởng của Shakespeare đối với Blackadder đạt đến chiều sâu lý thuyết mới trong các tác phẩm ngoại truyện, nơi loạt phim trực tiếp giải cấu trúc địa vị thần thánh của nhà văn trong văn hóa đại chúng.

Trong bản phác thảo kịch ngắn tại buổi hòa nhạc từ thiện Hysteria 2 (1989), Hugh Laurie đóng vai Shakespeare và Rowan Atkinson đóng vai người đại diện văn học. Bản phác thảo châm biếm cách thức các kiệt tác văn học bị bóp méo bởi áp lực thương mại và thị hiếu khán giả bình dân. Người đại diện khuyên Shakespeare rút ngắn vở Hamlet bằng cách cắt bỏ các bài độc thoại dông dài, cho rằng không ai thích nhân vật Hamlet cả mà chỉ quan tâm đến bóng ma, các trận đấu kiếm và một cô nàng điên mặc váy mỏng tự tử. Những gợi ý biên tập ngớ ngẩn của người đại diện đã vô tình tạo ra câu thơ chứa phép ẩn dụ hỗn độn nổi tiếng về việc cầm vũ khí chống lại biển cả đầy rẫy những tai ương. Cuối cùng, Shakespeare đồng ý cắt giảm bài phát biểu của Hamlet với điều kiện được giữ lại phân cảnh những gã đào mộ nói giọng Cockney và màn diễn với chiếc sọ người. Đoạn hội thoại kết thúc bằng lời tiên tri đầy châm biếm khi hai người thách thức xem lịch sử sẽ ghi nhớ ai.

Sự phê phán mang tính giải cấu trúc này đạt đến đỉnh điểm trong phim điện ảnh đặc biệt Blackadder: Back & Forth (1999). Khi Edmund du hành thời gian về thế kỷ XVI và gặp gỡ William Shakespeare (do Colin Firth thủ vai), anh đã xin chữ ký của nhà văn rồi đấm thẳng vào mặt ông. Hành động bạo lực này được giải thích là sự trả thù cho hàng triệu học sinh trong suốt bốn trăm năm sau phải khổ sở trên ghế nhà trường để cố tìm kiếm một trò đùa trong vở A Midsummer Night's Dream và là sự trừng phạt cho bản dựng điện ảnh dài bốn tiếng không cắt giảm của Kenneth Branagh cho vở Hamlet. Trong một dòng thời gian lịch sử bị thay đổi sau đó, Edmund đã chúc mừng Shakespeare vì đã viết nên một vở King Lear vô cùng hài hước.

Nhìn chung, cách Blackadder đối xử với Shakespeare không nhằm mục đích hạ thấp ông. Ngược lại, để khán giả có thể bật cười trước những mảng miếng giễu nhại này, bản thân họ phải có một sự am hiểu nhất định về di sản của đại thi hào. Bằng việc bóc trần những hào quang hàn lâm, gỡ bỏ sự sùng bái thái quá từ hệ thống giáo dục, Blackadder đã giải phóng Shakespeare khỏi sự khô khan của sách vở, đưa ông trở về đúng với vị trí ban đầu: một phần đầy sống động, gần gũi và bình dân của văn hóa đại chúng.[29]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Greenblatt 2005, 11; Bevington 2002, 1–3; Wells 1997, 399.
  2. Dobson 1992, 185–186
  3. Craig 2003, 3.
  4. Shapiro 2005, xvii–xviii; Schoenbaum 1991, 41, 66, 397–98, 402, 409; Taylor 1990, 145, 210–23, 261–5
  5. Chambers 1930, Vol. 1: 270–71; Taylor 1987, 109–134.
  6. Schoenbaum 1987, 14–22.
  7. Schoenbaum 1987, 24–6.
  8. Schoenbaum 1987, 23–24.
  9. Schoenbaum 1987, 62–63; Ackroyd 2006, 53; Wells và đồng nghiệp 2005, xv–xvi
  10. Baldwin 1944, 464.
  11. Baldwin 1944, 179-80, 183; Cressy 1975, 28, 29.
  12. Schoenbaum 1987, 93.
  13. Schoenbaum 1987, 94.
  14. Schoenbaum 1987, 224.
  15. Gerry Bailey and Karen Foster: Shakespeare's Quill, Nguyễn Kim Diệu dịch, Nhà xuất bản KIM ĐỒNG, 2011 & trang 13
  16. Gerry Bailey and Karen Foster: Shakespeare's Quill, Nguyễn Kim Diệu dịch, Nhà xuất bản KIM ĐỒNG, 2011 & trang 13
  17. Gerry Bailey và Karen Foster, Shakespeare's Quill, Nguyễn Kim Diệu dịch | Nhà xuất bản KIM ĐỒNG| 2011 | trang 33
  18. Nancy Mitford, Charlotte Mosley, Love from Nancy: the letters of Nancy Mitford, trang 253
  19. Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, The Works of Lord Macaulay, Complete: Critical and historical essays, trang 504
  20. René Wellek, A History of Modern Criticism: The later eighteenth century, các trang 36-38.
  21. David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, trang 146
  22. Stanley W. Wells, Sarah Stanton, The Cambridge companion to Shakespeare on stage, trang 184
  23. Mike Featherstone, Undoing culture: globalization, postmoderism and identity, trang 28
  24. David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, trang 240
  25. 1 2 Giles MacDonogh, Frederick the Great: A Life in Deed and Letters, trang 370
  26. Neil Rhodes, Shakespeare and the Origins of English, trang 216
  27. Ludwig Reiners, Frederick the Great: a biography, trang 274
  28. T. C. W. Blanning, The Culture of Power and the Power of Culture: Old Regime Europe 1660-1789, trang 218
  29. Trần, Bảo Nam ('access-date'). "William_Shakespeare". {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Ackroyd, Peter (2006), Shakespeare: The Biography, Luân Đôn: Vintage, ISBN 0749386558 {{Chú thích}}: Kiểm tra giá trị |isbn=: giá trị tổng kiểm (trợ giúp).
  • Adams, Joseph Quincy (1923), A Life of William Shakespeare, Boston: Houghton Mifflin, OCLC 1935264.
  • Baer, Daniel (2007), The Unquenchable Fire, Xulon Press, ISBN 16047732789781604773279 {{Chú thích}}: Kiểm tra giá trị |isbn=: số con số (trợ giúp).
  • Baldwin, T. W. (1944), William Shakspere's Small Latine & Lesse Greek, quyển 1, Urbana, Ill: University of Illinois Press, OCLC 359037.
  • Mike Featherstone, Undoing culture: globalization, postmoderism and identity, SAGE, 1995. ISBN 0-8039-7606-2.
  • Eliakim Littell, Robert S. Littell, Making of America Project, The living age..., Tập 148, Littell, son & company, 1881.
  • Barber, C. L. (1964), Shakespearian Comedy in the Comedy of Errors, England: College English 25.7.
  • Bate, Jonathan (2008), The Soul of the Age, Luân Đôn: Penguin, ISBN 978-0-670-91482-1.
  • Bentley, G. E. (1961), Shakespeare: A Biographical Handbook, New Haven: Yale University Press, ISBN 0313250421, OCLC 356416.
  • Berry, Ralph (2005), Changing Styles in Shakespeare, Luân Đôn: Routledge, ISBN 0415353165.
  • Bertolini, John Anthony (1993), Shaw and Other Playwrights, Pennsylvania: Pennsylvania State University Press, ISBN 027100908X.
  • Bevington, David (2002), Shakespeare, Oxford: Blackwell, ISBN 0631227199.
  • Bloom, Harold (1999), Shakespeare: The Invention of the Human, New York: Riverhead Books, ISBN 157322751X.
  • Boas, F. S. (1896), Shakspere and His Predecessors, New York: Charles Scribner's Sons.
  • Bowers, Fredson (1955), On Editing Shakespeare and the Elizabethan Dramatists, Philadelphia: University of Pennsylvania Press, OCLC 2993883.
  • Boyce, Charles (1996), Dictionary of Shakespeare, Ware, Herts, UK: Wordsworth, ISBN 1853263729.
  • Bradford, Gamaliel Jr. (tháng 2 năm 1910), "The History of Cardenio by Mr. Fletcher and Shakespeare", Modern Language Notes, 25 (2).
  • Bradley, A. C. (1991), Shakespearean Tragedy: Lectures on Hamlet, Othello, King Lear and Macbeth, Luân Đôn: Penguin, ISBN 0140530193.
  • Brooke, Nicholas (1998), "Introduction", trong Shakespeare, William; Brooke, Nicholas (biên tập), The Tragedy of Macbeth, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0192834177.
  • Bryant, John (1998), "Moby Dick as Revolution", trong Levine, Robert Steven (biên tập), The Cambridge Companion to Herman Melville, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 052155571X.
  • Bryson, Bill (2007), Shakespeare: The World as a Stage, Harper Collins, ISBN 0060740221.
  • Burns, Edward (2000), "Introduction", trong Shakespeare, William; Burns, Edward (biên tập), King Henry VI, Part 1, Luân Đôn: Arden Shakespeare, Thomson, ISBN 1903436435.
  • Carlyle, Thomas (1907), Adams, John Chester (biên tập), On Heroes, Hero-worship, and the Heroic in History, Boston: Houghton, Mifflin and Company, ISBN 140694419X, OCLC 643782.
  • Casey, Charles (Fall 1998), "Was Shakespeare gay? Sonnet 20 and the politics of pedagogy", College Literature, 25 (3), Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2007, truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2007.
  • Chambers, E. K. (1923), The Elizabethan Stage, quyển 2, Oxford: Clarendon Press, ISBN 0198115113, OCLC 336379.
  • Chambers, E. K. (1944), Shakespearean Gleanings, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0849205069, OCLC 2364570.
  • Chambers, E. K. (1930), William Shakespeare: A Study of Facts and Problems, 2 vols., Oxford: Clarendon Press, ISBN 0198117744, OCLC 353406.
  • Cheney, Patrick Gerard (2004), The Cambridge Companion to Christopher Marlowe, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521527341.
  • Clemen, Wolfgang (2005a), Shakespeare's Dramatic Art: Collected Essays, New York: Routledge, ISBN 0415352789.
  • Clemen, Wolfgang (2005b), Shakespeare's Imagery, Luân Đôn: Routledge, ISBN 0415352800.
  • Clemen, Wolfgang (1987), Shakespeare's Soliloquies, Luân Đôn: Routledge, ISBN 0415352770.
  • Cooper, Tarnya (2006), Searching for Shakespeare, National Portrait Gallery and Yale Center for British Art: Yale University Press, ISBN 9780300116113.
  • Craig, Leon Harold (2003), Of Philosophers and Kings: Political Philosophy in Shakespeare's "Macbeth" and "King Lear", Toronto: University of Toronto Press, ISBN 0802086055.
  • Cressy, David (1975), Education in Tudor and Stuart England, New York: St Martin's Press, ISBN 0713158174, OCLC 2148260.
  • Crystal, David (2001), The Cambridge Encyclopedia of the English Language, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521401798.
  • Dillon, Janette (2007), The Cambridge Introduction to Shakespeare's Tragedies, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521858178.
  • Dobson, Michael (1992), The making of the national poet, Oxford, England: Oxford University Press, ISBN 9780198183235.
  • Dominik, Mark (1988), Shakespeare–Middleton Collaborations, Beaverton, OR: Alioth Press, ISBN 0945088019.
  • Dowden, Edward (1881), Shakspere, New York: Appleton & Co., OCLC 8164385.
  • Drakakis, John (1985), Drakakis, John (biên tập), Alternative Shakespeares, New York: Meuthen, ISBN 0416368603.
  • Dryden, John (1889), Arnold, Thomas (biên tập), An Essay of Dramatic Poesy, Oxford: Clarendon Press, ISBN 8171563236, OCLC 7847292.
  • Dutton, Richard; Howard, Jean (2003), A Companion to Shakespeare's Works: The Histories, Oxford: Blackwell, ISBN 0631226338.
  • Edwards, Phillip (1958), "Shakespeare's Romances: 1900–1957", trong Nicoll, Allardyce (biên tập), Shakespeare Survey, quyển 11, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521215005, OCLC 15880120.
  • Edwards, Philip; Ewbank, Inga-Stina; Hunter, G. K., biên tập (2004), Shakespeare's Styles: Essays in Honour of Kenneth Muir, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521616948.
  • Eliot, T. S. (1934), Elizabethan Essays, Luân Đôn: Faber & Faber, ISBN 0156290510, OCLC 9738219.
  • Evans, G. Blakemore (1996), "Commentary", trong Shakespeare, William; Evans, G. Blakemore (biên tập), The Sonnets, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521222257.
  • Farley-Hills, David (1990), Shakespeare and the Rival Playwrights, 1600–06, Luân Đôn: Routledge, ISBN 0415040507.
  • Foakes, R. A. (1990), "Playhouses and Players", trong Braunmuller, A.; Hattaway, Michael (biên tập), The Cambridge Companion to English Renaissance Drama, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521386624.
  • Fort, J. A. (tháng 10 năm 1927), "The Story Contained in the Second Series of Shakespeare's Sonnets", The Review of English Studies, 3 (12).
  • Freehafer, John (tháng 5 năm 1969), "'Cardenio', by Shakespeare and Fletcher", PMLA, 84 (3).
  • Friedman, Michael D. (2006), "'I'm not a feminist director but...': Recent Feminist Productions of The Taming of the Shrew", trong Nelsen, Paul; Schlueter, June (biên tập), Acts of Criticism: Performance Matters in Shakespeare and his Contemporaries: Essays in Honor of James P. Lusardi, New Jersey: Fairleigh Dickinson University Press, ISBN 0838640591.
  • Frye, Roland Mushat (2005), The Art of the Dramatist, Luân Đôn; New York: Routledge, ISBN 0415352894.
  • Gager, Valerie L. (1996), Shakespeare and Dickens: The Dynamics of Influence, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 052145526X.
  • Gibbons, Brian (1980), Romeo and Juliet. The Arden Shakespeare Second Series, Luân Đôn: Thomson Learning, ISBN 9781903436417.
  • Gibbons, Brian (1993), Shakespeare and Multiplicity, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521444063.
  • Gibson, H. N. (2005), The Shakespeare Claimants: A Critical Survey of the Four Principal Theories Concerning the Authorship of the Shakespearean Plays, Luân Đôn: Routledge, ISBN 0415352908.
  • Grady, Hugh (2001a), "Modernity, Modernism and Postmodernism in the Twentieth Century's Shakespeare", trong Bristol, Michael; McLuskie, Kathleen (biên tập), Shakespeare and Modern Theatre: The Performance of Modernity, New York: Routledge, ISBN 0415219841.
  • Grady, Hugh (2001b), "Shakespeare Criticism 1600–1900", trong deGrazia, Margreta; Wells, Stanley (biên tập), The Cambridge Companion to Shakespeare, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521650941.
  • Gray, Arthur (1926), A Chapter in the Early Life of Shakespeare, Cambridge: Cambridge University Press. Reissued by Cambridge University Press, 2009, ISBN 9781108005579.
  • Greenblatt, Stephen (2005), Will in the World: How Shakespeare Became Shakespeare, Luân Đôn: Pimlico, ISBN 0712600981.
  • Greer, Germaine (1986), William Shakespeare, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0192875388.
  • Halio, Jay (1998), Romeo and Juliet: A Guide to the Play, Westport: Greenwood Press, ISBN 0313300895
  • Hansen, William (1983), Saxo Grammaticus & the Life of Hamlet, Lincoln: University of Nebraska Press, ISBN 0803223188.
  • Hattaway, Michael (1990), "Introduction", trong Shakespeare, William; Hattaway, Michael (biên tập), The First Part of King Henry VI, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 052129634X.
  • Hoeniger, F. D. (1963), "Introduction", trong Shakespeare, William; Hoeniger, F. D. (biên tập), Pericles, Luân Đôn: Arden Shakespeare, ISBN 0174435886l {{Chú thích}}: Kiểm tra giá trị |isbn=: ký tự không hợp lệ (trợ giúp).
  • Holland, Peter (2000), "Introduction", trong Shakespeare, William; Holland, Peter (biên tập), Cymbeline, Luân Đôn: Penguin, ISBN 0140714723.
  • Honan, Park (1998), Shakespeare: A Life, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0198117922.
  • Honigmann, E. A. J. (1999), Shakespeare: The Lost Years , Manchester: Manchester University Press, ISBN 0719054257.
  • Hunter, Robert E. (1864), Shakespeare and Stratford-upon-Avon: A ‘Chronicle of the Time’, Whittaker. Reissued by Cambridge University Press, 2009, ISBN 9781108001625.
  • Jackson, MacDonald P. (2004), "A Lover's Complaint Revisited", trong Zimmerman, Susan (biên tập), Shakespeare Studies, Cranbury, NJ: Associated University Press, ISBN 0838641202.
  • Jackson, MacDonald P. (2003), Defining Shakespeare: Pericles as Test Case, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0199260508.
  • Johnson, Samuel (2002), Lynch, Jack (biên tập), Samuel Johnson's Dictionary: Selections from the 1755 Work that Defined the English Language, Delray Beach, FL: Levenger Press, ISBN 184354296X.
  • Jonson, Ben (1996), "To the memory of my beloued, The AVTHOR MR. WILLIAM SHAKESPEARE: AND what he hath left vs", trong Shakespeare, William; Hinman, Charlton; Blayney (biên tập), The First Folio of Shakespeare (ấn bản thứ 2), New York: W. W. Norton & Company, ISBN 0393039854.
  • Kastan, David Scott (1999), Shakespeare After Theory, Luân Đôn: Routledge, ISBN 041590112X.
  • Keeble, N.H. (1980), Romeo and Juliet: Study Notes, Longman: York Notes, ISBN 0582781019.
  • Kermode, Frank (2004), The Age of Shakespeare, Luân Đôn: Weidenfeld & Nicholson, ISBN 029784881X.
  • Kolin, Philip C. (1985), Shakespeare and Southern Writers: A Study in Influence, Jackson: University Press of Mississippi, ISBN 0878052550.
  • Knutson, Roslyn (2001), Playing Companies and Commerce in Shakespeare's Time, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521772427.
  • Lambourne, Lionel (1999), Victorian Painting, Luân Đôn: Phaidon, ISBN 0714837768.
  • Levenson, Jill L. (2000), "Introduction", trong Shakespeare, William; Levenson, Jill L. (biên tập), Romeo and Juliet, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0192814966.
  • Levin, Harry (1986), "Critical Approaches to Shakespeare from 1660 to 1904", trong Wells, Stanley (biên tập), The Cambridge Companion to Shakespeare Studies, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521318416.
  • Love, Harold (2002), Attributing Authorship: An Introduction, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521789486.
  • Maguire, Laurie E. (1996), Shakespearean Suspect Texts: The "Bad" Quartos and Their Contexts, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521473640.
  • McAfee, Cleland Boyd (1912), The Greatest English Classic: A Study of the King James Version of the Bible and Its Influence on Life and Literature, New York{{Chú thích}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết).
  • McDonald, Russ (2006), Shakespeare's Late Style, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521820685.
  • McIntyre, Ian (1999), Garrick, Harmondsworth, England: Allen Lane, ISBN 0713993286.
  • McMichael, George; Glenn, Edgar M. (1962), Shakespeare and his Rivals: A Casebook on the Authorship Controversy, New York: Odyssey Press, OCLC 2113359.
  • McMullan, Gordon (2000), "Introduction", trong Shakespeare, William; McMullan, Gordon (biên tập), King Henry VIII, Luân Đôn: Arden Shakespeare, Thomson, ISBN 1903436257.
  • Meagher, John C. (2003), Pursuing Shakespeare's Dramaturgy: Some Contexts, Resources, and Strategies in his Playmaking, New Jersey: Fairleigh Dickinson University Press, ISBN 0838639933.
  • Milward, Peter (1973), Shakespeare's Religious Background, Chicago: Loyola University Press, ISBN 0829405089.
  • Morris, Brian Robert (1968), Christopher Marlowe, New York: Hill and Wang, ISBN 0809067803.
  • Muir, Kenneth (2005), Shakespeare's Tragic Sequence, Luân Đôn: Routledge, ISBN 0415353254.
  • Nagler, A. M. (1958), Shakespeare's Stage, New Haven, CT: Yale University Press, ISBN 0300026897.
  • Nolen, Stephanie (2002), Shakespeare's Face, Canada: Vintage Canada, ISBN 9780676974843.
  • Nuttall, Anthony (2007), Shakespeare the Thinker, Yale University Press, ISBN 9780300119282.
  • Paraisz, Júlia (2006), "The Nature of a Romantic Edition", trong Holland, Peter (biên tập), Shakespeare Survey, quyển 59, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521868386.
  • Pequigney, Joseph (1985), Such Is My Love: A Study of Shakespeare's Sonnets, Chicago: University of Chicago Press, ISBN 0226655636.
  • Pollard, Alfred W. (1909), Shakespeare Quartos and Folios: A Study in the Bibliography of Shakespeare's Plays, 1594-1685, Luân Đôn: Methuen, OCLC 46308204.
  • Porter, Roy; Teich, Mikuláš (1988), Romanticism in National Context, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521339138.
  • Potter, Lois (1997), "Introduction", trong Shakespeare, William; Potter, Lois (biên tập), The Two Noble Kinsmen, Luân Đôn: Arden Shakespeare, Thomson, ISBN 1904271189.
  • Pritchard, Arnold (1979), Catholic Loyalism in Elizabethan England, Chapel Hill: University of North Carolina Press, ISBN 0807813451.
  • Ramos, Péricles Eugênio da Silva (1976), Hamlet (translate to portuguese), São Paulo: Editora Abril
  • Ribner, Irving (2005), The English History Play in the Age of Shakespeare, Luân Đôn: Routledge, ISBN 0415353149.
  • Ringler, William, Jr. (1997), "Shakespeare and His Actors: Some Remarks on King Lear", trong Ogden, James; Scouten (biên tập), In Lear from Study to Stage: Essays in Criticism, New Jersey: Fairleigh Dickinson University Press, ISBN 083863690X{{Chú thích}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết).
  • Rowe, John (2006), "Introduction", trong Shakespeare, William; Rowe, John (biên tập), The Poems: Venus and Adonis, The Rape of Lucrece, The Phoenix and the Turtle, The Passionate Pilgrim, A Lover's Complaint, by William Shakespeare (ấn bản thứ 2), Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521855519.
  • Rowe, Nicholas (1709), Gray, Terry A. (biên tập), Some Acount of the Life &c. of Mr. William Shakespear, Online at Mr. William Shakespeare and the Internet (xuất bản 1997), Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2008, truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2007 {{Chú thích}}: Liên kết ngoài trong |place= (trợ giúp).
  • Royle, Nicholas (2000), "To Be Announced", trong Morra, Joanne; Robson, Mark; Smith, Marquard (biên tập), The Limits of Death: Between Philosophy and Psychoanalysis, Manchester: Manchester University Press, ISBN 0719057515.
  • Sawyer, Robert (2003), Victorian Appropriations of Shakespeare, New Jersey: Fairleigh Dickinson University Press, ISBN 0838639704.
  • Schanzer, Ernest (1963), The Problem Plays of Shakespeare, Luân Đôn: Routledge and Kegan Paul, ISBN 041535305X, OCLC 2378165.
  • Schoch, Richard (2002), "Pictorial Shakespeare", trong Wells, Stanley; Stanton, Sarah (biên tập), The Cambridge Companion to Shakespeare on Stage, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 052179711X.
  • Schoenbaum, Samuel (1991), Shakespeare's Lives, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0198186185.
  • Schoenbaum, Samuel (1987), William Shakespeare: A Compact Documentary Life , Oxford: Oxford University Press, ISBN 0195051610.
  • Schopenhauer, Arthur (1958), The World as Will and Representation , Payne: Falcon Wing's Press.
  • Shakespeare, William (1914), "Sonnet 18", trong Craig, W. J. (biên tập), [http://www.bartleby.com/70/ The Oxford Shakespeare: the Complete Works of William Shakespeare] , Oxford: Oxford University Press, truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2007 {{Chú thích}}: Liên kết ngoài trong |title= (trợ giúp).
  • Shapiro, James (2005), 1599: A Year in the Life of William Shakespeare, Luân Đôn: Faber and Faber, ISBN 0571214800.
  • Snyder, Susan; Curren-Aquino, Deborah (2007), "Introduction", trong Shakespeare, William; Snyder, Susan; Curren-Aquino, Deborah (biên tập), The Winter's Tale, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521221587.
  • Steiner, George (1996), The Death of Tragedy, New Haven: Yale University Press, ISBN 0300069162.
  • Taylor, Dennis (2006), "Hardy and Hamlet", trong Wilson, Keith (biên tập), Thomas Hardy Reappraised: Essays in Honour of Michael Millgate, Toronto: University of Toronto Press, ISBN 0802039553.
  • Taylor, Gary (1990), Reinventing Shakespeare: A Cultural History from the Restoration to the Present, Luân Đôn: Hogarth Press, ISBN 0701208880.
  • Taylor, Gary (1987), William Shakespeare: A Textual Companion, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0198129149.
  • Tiramani, Jenny (2002), "The Sanders Portrait" (PDF), ww.CanadianShakespeares.ca, truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026 {{Chú thích}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= (trợ giúp).[nguồn không đáng tin?]
  • Vickers, Brian (2002), Shakespeare, Co-Author: A Historical Study of Five Collaborative Plays, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0199256535.
  • Wain, John (1975), Samuel Johnson, New York: Viking, ISBN 0670616710.
  • Wells, Stanley; Taylor, Gary; Jowett, John; Montgomery, William, biên tập (2005), The Oxford Shakespeare: The Complete Works (ấn bản thứ 2), Oxford: Oxford University Press, ISBN 0199267170.
  • Wells, Stanley (1997), Shakespeare: A Life in Drama, New York: W. W. Norton, ISBN 0393315622.
  • Wells, Stanley (2006), Shakespeare & Co, New York: Pantheon, ISBN 0375424946.
  • Wells, Stanley; Orlin, Lena Cowen, biên tập (2003), Shakespeare: An Oxford Guide, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0199245223.
  • Werner, Sarah (2001), Shakespeare and Feminist Performance, Luân Đôn: Routledge, ISBN 0415227291.
  • Wilson, Richard (2004), Secret Shakespeare: Studies in Theatre, Religion and Resistance, Manchester: Manchester University Press, ISBN 0719070244.
  • Wood, Michael (2003), Shakespeare, New York: Basic Books, ISBN 0465092640.
  • Wright, George T. (2004), "The Play of Phrase and Line", trong McDonald, Russ (biên tập), Shakespeare: An Anthology of Criticism and Theory, 1945–2000, Oxford: Blackwell, ISBN 0631234888.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]