R-23
| R-23 / R-24 AA-7 Apex | |
|---|---|
Tên lửa R-23T trên giá treo dưới cánh một chiếc MiG-23 của Ba Lan | |
| Loại | Tên lửa không đối không tầm trung |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1974–nay |
| Sử dụng bởi | Không quân Liên Xô, và các quốc gia khác |
| Trận | Chiến tranh Lebanon 1982 Chiến tranh Iran–Iraq Chiến dịch Moduler Nội chiến Syria |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | V. A. Pustyakov |
| Nhà sản xuất | Vympel NPO |
| Thông số (R-23R) | |
| Khối lượng | 222 kg (489 lb) |
| Chiều dài | 4,50 m (14 ft 9 in) |
| Đường kính | 223 mm (8,8 in) |
| Đầu nổ | Thuốc nổ mạnh thanh văng |
| Trọng lượng đầu nổ | 25 kg (55 lb) |
| Động cơ | Động cơ tên lửa nhiên liệu rắn |
| Chất nổ đẩy đạn | 1,04 m (3 ft 5 in) |
| Tầm hoạt động | 35 kilômét (22 mi) |
| Tốc độ | Mach 3 |
| Hệ thống chỉ đạo | Tự dẫn radar bán chủ động (R-23R/R-24R) Đầu dò hồng ngoại (R-23T/R-24T) |
| Nền phóng | MiG-23 |



Vympel R-23 (tên định danh NATO AA-7 Apex) là một loại tên lửa không đối không tầm trung được phát triển bởi Vympel tại Liên Xô dành cho các máy bay tiêm kích. Một phiên bản cập nhật với tầm bắn xa hơn, R-24, đã thay thế nó trong biên chế. Nó có thể so sánh với loại AIM-7 Sparrow của Mỹ, cả về hiệu suất tổng thể lẫn vai trò.
Phát triển
[sửa | sửa mã nguồn]Việc thiết kế một loại tên lửa mới để trang bị cho tiêm kích MiG-23 bắt đầu vào giữa thập niên 1960 dưới sự chỉ đạo của nhóm thiết kế do V.A. Pustyakov đứng đầu. Được biết đến với mã hiệu K-23 trong quá trình thiết kế, loại vũ khí mới này dự kiến dùng để chống lại các mục tiêu kích cỡ máy bay ném bom, với khả năng "snap-up" (bắn vọt) để tấn công các mục tiêu ở độ cao lớn hơn máy bay phóng. Ban đầu, các kỹ sư dự định tích hợp đầu dò chế độ kép sử dụng cả radar bán chủ động (SARH) và hồng ngoại (IR), nhưng điều này tỏ ra không khả thi. Thay vào đó, các mẫu SARH và IR riêng biệt (lần lượt là Izdeliye (Sản phẩm) 340 và 360) đã được phát triển. Các đợt bắn thử được thực hiện vào năm 1967, mặc dù đầu dò của phiên bản SARH đã bộc lộ rất nhiều vấn đề[cần dẫn nguồn].
Vào năm 1968, Liên Xô thu thập được một quả AIM-7 và một nhóm tại Vympel đã bắt đầu sao chép nó với tên gọi K-25[cần dẫn nguồn]. Một cuộc so sánh giữa hai loại đã dẫn đến việc K-23 được đưa vào sản xuất, phần lớn dựa trên tầm bắn và khả năng kháng nhiễu tốt hơn. Dự án K-25 kết thúc vào năm 1971. Tuy nhiên, một vài tính năng của dòng Sparrow sau này đã được sử dụng trong thiết kế của Vympel R-27.[cần dẫn nguồn]
Loại tên lửa này, với định danh R-23, chính thức đi vào biên chế từ tháng 1 năm 1974, phiên bản SARH là R-23R, phiên bản IR là R-23T. R-23R nặng 222 kg (489 lb), sử dụng radar đơn xung giúp nó có khả năng kháng nhiễu điện tử (ECM) tốt hơn so với AIM-7E-2. R-23T nhẹ hơn với 215 kg (474 lb) và sử dụng đầu dò hồng ngoại làm mát bằng nitơ lỏng, yêu cầu phải khóa mục tiêu trước khi phóng, thông qua radar của máy bay hoặc hệ thống IRST. Cả hai phiên bản đều sử dụng cùng một loại đầu đạn lắp ngòi nổ radar, có bán kính tiêu diệt 8 m (26 ft) và đủ sức bắn hạ các mục tiêu cỡ máy bay ném bom.[1] Ở phương Tây, chúng lần lượt được gọi là AA-7A và AA-7B. Một phiên bản huấn luyện không chứa thuốc nổ là R-23UT cũng được phát triển.
Khung thân tên lửa nổi bật với bốn cánh delta bố trí hình chữ thập ngay phía sau điểm giữa thân, và các bề mặt điều khiển dạng delta cắt góc ở cực đuôi nằm thẳng hàng với cánh chính. Các tấm nhỏ hình tam giác cắt góc được lắp thẳng hàng gần mũi: được gọi là "tấm gây mất ổn định", chúng giúp cải thiện hiệu quả của cánh lái ở góc tấn lớn (tên lửa R-60 cũng sử dụng tính năng này). Khác biệt ngoại hình duy nhất giữa hai phiên bản là phần mũi: dạng ogive (nhọn cong) cho đầu dò SARH, và ngắn hơn (30 cm) cùng bo tròn hơn cho phiên bản IR.
R-23 có xác suất tiêu diệt khoảng 0,8-0,9, mặc dù nó không thể bắn trúng mục tiêu đang cơ động ở mức trên 5 G. Máy bay phóng cũng bị giới hạn ở mức 4 G khi muốn khai hỏa tên lửa. Phiên bản hồng ngoại R-23T có tầm phóng tối thiểu là 4 km đối với mục tiêu đối đầu, nhưng chỉ 1,3 km đối với mục tiêu đang tháo chạy. Tầm bắn tối đa của nó cũng phụ thuộc vào hướng mặt của mục tiêu bên cạnh độ cao của máy bay phóng: ở độ cao thấp, tầm bắn là 11 km chống mục tiêu đối đầu và 8–10 km chống mục tiêu tháo chạy; ở độ cao lớn, con số này lần lượt là 11 km và 4 km[cần dẫn nguồn]. Phiên bản dẫn đường bằng radar R-23R có tầm phóng tối thiểu tương tự, nhưng tầm bắn tối đa lớn hơn nhiều: 14 km và 4 km chống mục tiêu đối đầu ở độ cao thấp, và lần lượt là 25 km và 8–10 km ở độ cao lớn.[1]
Số lượng lớn R-23 đã được chế tạo bởi cả Molniya (trước đây là OKB-4) cũng như Vympel (trước đây là OKB-134).
Bắt đầu từ năm 1975, một phiên bản cải tiến của vũ khí này đã được phát triển để trang bị cho MiG-23ML/MLD, đi vào biên chế với tên gọi R-24 vào năm 1981. Cả hai biến thể SARH và IR đều nặng hơn (lần lượt 243 và 235 kg (536 và 518 lb)) và sở hữu đầu đạn lớn hơn 35 kg (77 lb) với bán kính tiêu diệt 10 m (33 ft). Đầu đạn cũng có ngòi nổ radar tin cậy hơn, giúp giảm đáng kể tầm bắn tối thiểu xuống còn 500 m (1.600 ft) khi tấn công từ phía sau và 2,5 km (1,6 mi) khi tấn công trực diện. Cả hai đều có thể được phóng bởi và chống lại các mục tiêu cỡ máy bay tiêm kích đang cơ động ở mức 7 G.[1]
Biến thể SARH R-24R sở hữu đầu dò RGS-24 với khả năng kháng nhiễu ECM vượt trội và tính năng khóa mục tiêu sau khi phóng (LOAL), giúp tránh nhiễu từ chính radar của máy bay phóng khi tên lửa lướt qua mũi máy bay. Tính năng này, cùng với động cơ tên lửa lớn hơn và kéo dài giai đoạn bay quán tính, đã giúp nó có tầm bắn xa hơn 30% so với thế hệ tiền nhiệm: 17 km và 4 km chống mục tiêu đối đầu và tháo chạy ở độ cao thấp, và lần lượt là 35 km và 20 km ở độ cao lớn.[1][2] Tên lửa có thể bắn trúng mục tiêu ở độ cao từ 40 đến 25,000 m (131,234 đến 82,021 ft) và thậm chí có thể lao vào các trực thăng đang bay treo. Phiên bản IR R-24T có đầu dò TGS-23T4 cải tiến mạnh mẽ với độ nhạy cao hơn, nhưng vẫn yêu cầu phải khóa mục tiêu trước khi phóng. Ở độ cao thấp, tầm bắn tối đa của nó tương đương R-23, nhưng ở độ cao lớn, nó có thể tấn công mục tiêu tháo chạy từ khoảng cách 20 km và mục tiêu đối đầu từ 12 km.[1] Các tên lửa này được gọi chính thức là izdeliye (Sản phẩm) 140 và 160 tại Liên Xô, và AA-7C, AA-7D ở phương Tây. R-23/24 cũng được sản xuất theo giấy phép tại Romania với tên gọi A-911/A901.
R-24 duy trì phục vụ (ít nhất là ở mức hạn chế) trong quân đội Nga cho đến khi những chiếc MiG-23 cuối cùng của Nga được rút khỏi biên chế vào năm 1997.
Lịch sử chiến đấu
[sửa | sửa mã nguồn]Syria
[sửa | sửa mã nguồn]Tên lửa R-23 đã được sử dụng tại Thung lũng Beqaa vào tháng 6 năm 1982, trong cuộc Chiến tranh Lebanon 1982. Tuy nhiên, rất khó để đánh giá mức độ thành công của nó. Các nguồn tin từ Liên Xô và Syria khẳng định nó đã đạt được một vài chiến công, trong khi phía Israel phủ nhận điều này. Theo nhà nghiên cứu người Áo Tom Cooper, các tuyên bố của Syria bao gồm việc sử dụng R-23/24 để hạ gục 6 chiếc F-16A và một chiếc E-2C, tuy nhiên, chiến tích duy nhất được xác nhận là chống lại một máy bay không người lái BQM-34.[3]
Trong cuộc Nội chiến Syria, các máy bay MiG-23 của Syria đã sử dụng tên lửa R-24R để bắn hạ 2 chiếc máy bay không người lái Selex ES Falco của Jordan tại khu vực lân cận tỉnh Daraa vào ngày 15–16 tháng 6 năm 2017.[4]
Iraq
[sửa | sửa mã nguồn]Nhiều chiến tích của R-23 / R-24 đã được báo cáo trong cuộc chiến giữa Iran và Iraq khi các máy bay MiG-23 của Iraq khai hỏa chúng vào các máy bay F-14A, F-4D/E và F-5E của Iran.[5]
Angola
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 27 tháng 9 năm 1987, trong Chiến dịch Moduler, một nỗ lực đánh chặn hai chiếc MiG-23ML của FAR Cuba đã được thực hiện. Chiếc F1CZ của Đại úy Arthur Piercy đã bị hư hại bởi một quả tên lửa đối không R-24 hoặc R-60 do Thiếu tá Alberto Ley Rivas phóng trực diện (head-on). Vụ nổ đã phá hủy dù hãm đà của máy bay và làm hỏng hệ thống thủy lực. Piercy đã cố gắng đưa máy bay quay trở lại căn cứ không quân Rundu, nhưng máy bay đã chạy quá đường băng. Cú va chạm với địa hình gồ ghề đã khiến ghế phóng của Piercy tự kích hoạt, nhưng ông không thể tách rời khỏi ghế và bị chấn thương cột sống nghiêm trọng.[6][7]
Vào ngày 5 tháng 4 năm 1985 lúc 14:30 GMT, hai chiếc C-130B Hercules của SAAF cất cánh để tiếp tế cho quân đội UNITA thì bị chặn lại trên đường về bởi một chiếc MiG-23ML do phi công người Cuba, Thiếu tá Eduardo Gonzalez điều khiển. Một tên lửa SARH R-24R đã được phóng trước và nổ sớm khi va vào một ngọn đồi hoặc núi. Tiếp theo là một tên lửa IR R-24T được phóng từ khoảng cách 5 km; tên lửa bám mục tiêu tốt nhưng lại bay xuyên qua giữa động cơ số 1 và số 2 mà không phát nổ. Cả hai chiếc Hercules đều có thể trở về căn cứ nguyên vẹn.[8]
Liên Xô
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 28 tháng 9 năm 1988, hai chiếc MiG-23MLD của Liên Xô do Vladmir Astakhov và Boris Gavrilov điều khiển đã bắn hạ hai chiếc trực thăng AH-1J Cobra của Iran xâm nhập vào không phận Afghanistan bằng tên lửa R-23.[9]
Các quốc gia vận hành
[sửa | sửa mã nguồn]Các quốc gia vận hành hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn]Các quốc gia từng vận hành
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 3 4 5 Mladenov (2016). Third Generation - 'Flogger' Air-to-Air Missiles.
- ↑ "AA-7 APEX R-23 / R-24". Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2014.
- ↑ Sander Peeters. "Syrian Air-to-Air Victories since 1948 - www.acig.org". Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2014.
- ↑ "Drones Are Dropping Like Flies From the Sky Over Syria". ngày 22 tháng 6 năm 2017.
- ↑ Boring, War Is (ngày 22 tháng 3 năm 2017). "Iraq Did All It Could to Kill Hashem All-e-Agha, Iran's Top F-14 Pilot". medium.com. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2018.
- ↑ Lord, Dick (2000). Vlamgat: The Story of the Mirage F1 in the South African Air Force. Covos-Day. ISBN 0-620-24116-0.
- ↑ "Piloto SAAF derribado por MiG-23 cubano". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008.
- ↑ Reid, Lionel; Gonzalez, Eduardo (ngày 4 tháng 5 năm 2023). The MiG Diaries: Fighter pilot memoirs & accounts of Cuban, SAAF and Angolan air combat in Southern African skies (bằng tiếng English). Independently published. tr. 324–326. ISBN 979-8394092459.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Aircraft Downed During the Cold War and Thereafter". Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2014.
- 1 2 "Trade Registers". armstrade.sipri.org. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2016.
- ↑ Cooper 2018, tr. 60
- ↑ Cooper 2018, tr. 66
- ↑ Gordon & Komissarov 2019, tr. 372
- ↑ Gordon & Komissarov 2019, tr. 446
- ↑ "A (Indian) MiG-23MF launching an R23". www.bharat-rakshak.com. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
- ↑ Cooper 2018, tr. 23
- ↑ Gordon & Komissarov 2019, tr. 489
- ↑ Gordon & Komissarov 2019, tr. 223
- Tài liệu
- Cooper, Tom (2018). MiG-23 Flogger in the Middle East, Mikoyan i Gurevich MiG-23 in Service in Algeria, Egypt, Iraq, Libya and Syria, 1973-2018. Warwick: Helion & Company Publishing. ISBN 978-1-912-390328.
- Gordon, Yefim (2004). Soviet/Russian Aircraft Weapons Since World War Two. Hinckley, England: Midland Publishing. ISBN 1-85780-188-1.
- Gordon, Yefim; Komissarov, Dmitriy (2019). Mikoyan MiG-23 & MiG-27. Manchester: Crécy Publishing. ISBN 978-1-91080-931-0.
- Mladenov, Alexander (2016). Soviet Cold War Fighters. United Kingdom: Fonthill Media. ISBN 9781781554968.