Bước tới nội dung

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ OPEC)
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ
Tên bản ngữ
  • Organization of the Petroleum Exporting Countries (tiếng Anh)
Quốc kỳ Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa
Quốc kỳ
Biểu trưng Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa
Biểu trưng
Các nước thành viên OPEC và OPEC+
Các nước thành viên OPEC và OPEC+
Tổng quan
Trụ sởViên, Áo
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Anh
KiểuTổ chức quốc tế,[1][2]
Cartel[3][4][5]
Chính trị
Lãnh đạo
Haitham al-Ghais
Lịch sử
'
Thành lậpBaghdad, Iraq
 Quy chế
tháng 9 năm 1960 (65 năm trước) (1960-09)
 Có hiệu lực
tháng 1 năm 1961 (65 năm trước) (1961-01)
Thành viên
11 nước thành viên OPEC+
Thông tin khác
Trang web
opec.org

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC /ˈpɛk/ OH-pek) là một cartel liên chính phủ gồm các nước sản xuất dầu mỏ hàng đầu và phụ thuộc vào dầu mỏ, có mục đích tạo hợp tác tác động đến thị trường dầu mỏ toàn cầu và tối đa hóa lợi nhuận. OPEC được thành lập vào ngày 14 tháng 9 năm 1960 tại Baghdad. Năm thành viên sáng lập bao gồm: Iran, Iraq, Kuwait, Ả Rập Xê ÚtVenezuela. Hiện tại, OPEC gồm 11 nước thành viên, chiếm 38% sản lượng dầu thô toàn cầu vào năm 2022.[6][7] Ước tính rằng các nước OPEC chiếm 79,5% trữ lượng dầu mỏ đã được tìm thấy của thế giới, trong đó Trung Đông chiếm 67,2% tổng trữ lượng của OPEC.[8]

Bắt đầu từ thập niên 1960 và 1970, OPEC tái cấu trúc hệ thống sản xuất dầu mỏ toàn cầu theo hướng có lợi cho các nước sản xuất dầu mỏ và triệt tiêu thế độc quyền của các tập đoàn dầu mỏ Anh-Mỹ.[9] Vào thập niên 1970, việc hạn chế sản xuất dầu mỏ làm tăng mạnh giá dầu, gây những hậu quả lâu dài và sâu rộng đến nền kinh tế toàn cầu. Kể từ thập niên 1980, OPEC có tác động hạn chế đến nguồn cung dầu mỏ thế giới và sự ổn định giá dầu vì các thành viên thường xuyên không tuân thủ các hạn ngạch sản xuất dầu.[10]

Sự thành lập OPEC đánh dấu một bước ngoặt hướng tới quốc hữu hóa tài nguyên thiên nhiên. Các quyết định của OPEC có một vai trò nổi bật trong thị trường dầu mỏ toàn cầu và quan hệ quốc tế. Các nhà kinh tế mô tả OPEC là một ví dụ điển hình của một cartel[11] nhưng được bảo vệ theo học thuyết miễn trừ quốc gia theo luật quốc tế.[12]

Tổ chức

[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ thập niên 1960 và 1970, OPEC tái cấu trúc hệ thống sản xuất dầu mỏ toàn cầu theo hướng có lợi cho các nước sản xuất dầu mỏ và triệt tiêu thế độc quyền của các công ty dầu mỏ Anh-Mỹ. Các nước sản xuất dầu mỏ trong OPEC phối hợp để quốc hữu hóa sản xuất dầu mỏ và cấu trúc giá dầu mà không phải chịu sự trừng phạt từ phương Tây.[9]

Tháng 6 năm 2020, tất cả các nước OPEC+ nhất trí thành lập Cơ chế Bồi thường nhằm đảm bảo tuân thủ đầy đủ và thực hiện các biện pháp cắt giảm sản lượng dầu được OPEC thỏa thuận. Sáng kiến này phù hợp với một trong những mục tiêu của OPEC: duy trì một thị trường dầu mỏ ổn định, đáng chú ý là dầu mỏ tương đối ổn định hơn so với các mặt hàng năng lượng khác.[13][14]

Lãnh đạo

[sửa | sửa mã nguồn]
refer to caption
Các đại biểu Hội nghị OPEC tại Swissotel, Quito, Ecuador, tháng 12 năm 2010

Hội nghị OPEC là cơ quan lãnh đạo cao nhất của OPEC, gồm các đoàn đại biểu thường do bộ trưởng dầu mỏ của các nước thành viên làm trưởng đoàn. Tổng Thư ký OPEC là người đứng đầu OPEC. OPEC thường họp tại trụ sở ở Viên ít nhất hai lần mỗi năm và có thể họp bất thường khi cần thiết. OPEC hoạt động trên các nguyên tắc nhất trí và "một thành viên, một phiếu bầu". Mỗi nước thành viên đóng một khoản phí thành viên bằng nhau vào ngân sách của OPEC.[15] Ả Rập Xê Út được coi là lãnh đạo de facto của OPEC vì là nước xuất khẩu dầu lớn nhất và có lợi nhuận cao nhất trên thế giới, với đủ năng lực cung cấp để làm một nhà sản xuất bù trừ cho thị trường dầu mỏ toàn cầu.[16]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1949, Venezuela đề nghị Iran, Iraq, Kuwait và Ả Rập Xê Út trao đổi quan điểm và nghiên cứu các phương thức liên lạc thường xuyên, chặt chẽ hơn giữa các nước xuất khẩu dầu mỏ.[17] Vào thời điểm đó, một số mỏ dầu lớn nhất thế giới mới vừa mới đi vào hoạt động ở Trung Đông. Ủy ban Khế ước Dầu mỏ Liên tiểu bang của chính quyền liên bang Hoa Kỳ với Ủy ban Đường sắt Texas để hạn chế sản xuất dầu mỏ quá mức.[18]

Hoa Kỳ là nước sản xuất và tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế giới. Sau khi tập đoàn Standard Oil của John D. Rockefeller bị giải thể, một nhóm bảy công ty đa quốc gia chi phối thị trường dầu mỏ thế giới, trong đó năm công ty có trụ sở chính tại Hoa Kỳ. Các nước xuất khẩu dầu mỏ khác thành lập OPEC nhằm tạo đối trọng với các tập đoàn phương Tây này.[18]

1959–1960: Ả Rập Xê Út và Venezuela

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1959, khi nguồn cung mới bắt đầu được khai thác, các tập đoàn dầu mỏ đa quốc gia đơn phương giảm 10% giá niêm yết dầu thô của Venezuela và Trung Đông. Vài tuần sau, Liên đoàn Ả Rập triệu tập Đại hội Dầu mỏ Ả Rập đầu tiên tại Cairo. Nhà báo Wanda Jablonski giới thiệu Bộ trưởng Dầu mỏ Ả Rập Xê Út Abdullah Tariki với Bộ trưởng Hydrocarbon Venezuela Juan Pablo Pérez Alfonzo, hai nước sản xuất dầu lớn nhất lúc bấy giờ ngoài Hoa Kỳ và Liên Xô.[18][19]

Cả hai bộ trưởng dầu mỏ đều tức giận trước việc cắt giảm giá và vận động thành công những đại biểu khác thành lập Hiệp ước Maadi, kêu gọi thành lập "Ủy ban Tham vấn Dầu mỏ" gồm các nước xuất khẩu, có quyền xem xét kế hoạch điều chỉnh giá dầu của các tập đoàn dầu mỏ đa quốc gia. Vào thời điểm đó, các nước xuất khẩu dầu mỏ có thái độ thù địch rõ rệt đối với phương Tây và ngày càng phản đối các tập đoàn dầu mỏ đa quốc gia vì kiểm soát tất cả các hoạt động dầu mỏ trong nước nhưng lại ở nước ngoài. Tháng 8 năm 1960, các tập đoàn dầu mỏ đa quốc gia lại đơn phương tuyên bố cắt giảm mạnh giá niêm yết đối với dầu thô Trung Đông bất chấp những cảnh báo và với việc Hoa Kỳ ưu tiên dầu mỏ của Canada và México vì lý do chiến lược.[17][18][19][20]

1960–1975: Thành lập và phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]
refer to caption
Trụ sở OPEC tại Viên

Từ ngày 10 đến 14 tháng 9 năm 1960, Hội nghị Baghdad được tổ chức theo sáng kiến của Tariki, Pérez Alfonzo và Thủ tướng Iraq Abd al-Karim Qasim, tuy Iraq không tham dự đại hội dầu mỏ năm 1959.[21] Các đại diện của Iran, Iraq, Kuwait, Ả Rập Xê Út và Venezuela thảo luận các phương án nhằm tăng giá dầu thô do các nước của họ sản xuất và đáp trả các hành động đơn phương của các tập đoàn dầu khí đa quốc gia. Bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Hoa Kỳ, Ả Rập Xê Út thành lập Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ gồm các nước sản xuất Ả Rập và ngoài Ả Rập, với mục tiêu đảm bảo mức giá tốt nhất từ các tập đoàn dầu mỏ lớn.[22]

Ban đầu, các thành viên Trung Đông yêu cầu đặt trụ sở OPEC tại Baghdad hoặc Beirut, nhưng Venezuela lập luận rằng địa điểm trụ sở phải là một nơi trung lập, nên OPEC quyết định chọn Genève, Thụy Sĩ. Ngày 1 tháng 9 năm 1965, OPEC chuyển trụ sở đến Viên, Áo, sau khi Thụy Sĩ từ chối gia hạn đặc quyền ngoại giao,[23] một phần của nỗ lực giảm dân số nước ngoài tại Thụy Sĩ.[24] Áo đưa ra những điều khoản hấp dẫn cho OPEC vì muốn thu hút các tổ chức quốc tế.[25]

Trong những năm đầu tiên, các nước sản xuất dầu mỏ có thỏa thuận chia lợi nhuận 50/50 với các tập đoàn dầu mỏ.[26] OPEC thương lượng tập thể với các công ty dầu mỏ, nhưng phải đối mặt với vấn đề phối hợp yêu cầu của các thành viên.[26] Nếu một thành viên OPEC yêu cầu các công ty dầu mỏ quá nhiều thì các công ty dầu mỏ có thể chuyển sản xuất sang nước khác.[26]

Năm 1970, Libya đạt thỏa thuận chia lợi nhuận 58/42 với công ty dầu mỏ Occidental, thúc đẩy các thành viên OPEC khác yêu cầu các công ty dầu mỏ tăng tỷ lệ lợi nhuận.[26] Ngày 2 tháng 4 năm 1971, các công ty dầu mỏ lớn và các thành viên OPEC đang kinh doanh tại Địa Trung Hải ký Thỏa thuận Tripoli, nâng giá dầu và tăng tỷ lệ lợi nhuận của các nước sản xuất.

Trong giai đoạn 1961–1975, Qatar, Indonesia, Vương quốc Libya, Tiểu vương quốc Abu Dhabi, Algérie, Nigeria, EcuadorGabon gia nhập OPEC [27] Vào đầu thập niên 1970, OPEC chiếm hơn một nửa sản lượng dầu mỏ toàn cầu.[28]

Năm 2006, Quyền Tổng thư ký OPEC Mohammed Barkindo kêu gọi Angola và Sudan gia nhập OPEC.[29] Angola gia nhập OPEC vào năm 2007, sau đó Guinea Xích đạo gia nhập vào năm 2017.[30] Từ thập niên 1980, các đại diện của Canada, Ai Cập, México, Na Uy, Oman, Nga và những nước xuất khẩu dầu mỏ khác tham dự các phiên họp của OPEC với tư cách là quan sát viên.[31]

1973–1974: Cấm vận dầu mỏ

[sửa | sửa mã nguồn]
refer to caption
Một trạm xăng dầu tại Hoa Kỳ đóng cửa trong thời kỳ cấm vận dầu mỏ năm 1973

Vào đầu thập niên 1970, Libya, Algérie, Iraq, Nigeria, Ả Rập Xê Út và Venezuela quốc hữu hóa ngành sản xuất dầu mỏ. Với quyền kiểm soát lớn hơn đối với các quyết định sản xuất dầu mỏ và trong bối cảnh giá dầu cao, các thành viên OPEC đơn phương tăng giá dầu vào năm 1973, dẫn đến một cuộc khủng hoảng dầu mỏ.[32]

Tháng 10 năm 1973, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ Ả Rập tuyên bố cắt giảm sản lượng dầu đáng kể và cấm vận dầu mỏ đối với Hoa Kỳ và những nước khác ủng hộ Israel trong Chiến tranh Yom Kippur.[33][34] Giá dầu tăng mạnh từ 3 đô la Mỹ / thùng dầu lên 12 đô la Mỹ /thùng dầu. Những nước bị cấm vận buộc phải áp dụng phân phối năng lượng khẩn cấp. Tình hình trở nên trầm trọng hơn do các phản ứng hoảng loạn, xu hướng giảm sản lượng dầu của Hoa Kỳ, phá giá tiền tệ[34] và một cuộc tranh chấp kéo dài giữa các thợ mỏ than tại Anh. Lệnh cấm vận năm 1973 có hiệu quả hơn nỗ lực cấm vận trước đó sau Chiến tranh Sáu Ngày năm 1967.[35]

Vương quốc Anh áp đặt tuần làm việc ba ngày khẩn cấp.[36] Bảy nước châu Âu cấm lái xe vào Chủ nhật nếu không cần thiết.[37] Các trạm xăng ở Hoa Kỳ hạn chế lượng xăng có thể được phân phối, đóng cửa vào Chủ nhật và hạn chế những ngày có thể mua xăng dựa trên biển số xe.[38][39]

Lệnh cấm vận được dỡ bỏ vào tháng 3 năm 1974 sau các nỗ lực ngoại giao tích cực. Tuy nhiên, giá dầu tiếp tục tăng. Các nước phương Tây rơi vào một cuộc suy thoái kinh tế, với tình trạng đình lạm, giá cổ phiếu, trái phiếu giảm mạnh, những thay đổi lớn trong cán cân thương mại và tái chế petrodollar, chấm dứt thời kỳ bùng nổ kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai.[40][41]

refer to caption
Một người phụ nữ sử dụng lò sưởi trong nhà để sưởi ấm, tháng 10 năm 1973

Cuộc cấm vận dầu mỏ năm 1973–1974 có tác động lâu dài đến Hoa Kỳ và những nước công nghiệp hóa khác. Năm 1974, Cơ quan Năng lượng Quốc tế được thành lập. Các nước thiết lập dự trữ khẩn cấp quốc gia để đối phó với những gián đoạn nguồn cung ngắn hạn. Việc bảo tồn năng lượng được tăng cường, bao gồm hạ giới hạn tốc độ trên đường cao tốc, sử dụng ô tô và thiết bị nhỏ, sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, áp dụng quy ước giờ mùa hè quanh năm, giảm sử dụng hệ thống sưởi và điều hòa, cải thiện cách nhiệt tòa nhà, tăng cường hỗ trợ giao thông công cộng và chú trọng hơn vào than đá, khí thiên nhiên, nhiên liệu ethanol, năng lượng hạt nhân và các nguồn năng lượng tái tạo khác.[34][42][43] Trong giai đoạn 1980–2014, mức tiêu thụ dầu của Hoa Kỳ chỉ tăng 11%, trong khi GDP thực tế tăng 150%.

OPEC chứng minh rằng dầu có thể được sử dụng như một vũ khí chính trị và kinh tế chống lại các nước khác, ít nhất là trong ngắn hạn.[34][42][43][44][45]

1975–1980: Viện trợ

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1973, một số nước Ả Rập sử dụng doanh thu dầu mỏ để tiến hành ngoại giao ngân phiếu, trở thành những nước viện trợ nước ngoài lớn nhất thế giới.[46][47] OPEC bổ sung mục tiêu bán dầu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của các nước nghèo. Tháng 1 năm 1976, OPEC thành lập Quỹ Đặc biệt nhằm tài trợ phát triển cho các nước đang phát triển.[48]

Quỹ Đặc biệt trở thành một cơ quan phát triển quốc tế chính thức vào tháng 5 năm 1980 và đổi tên thành Quỹ OPEC vì Phát triển Quốc tế,[49] với tư cách Quan sát viên Thường trực tại Liên Hợp Quốc.[50]

1979–1980: Khủng hoảng dầu mỏ

[sửa | sửa mã nguồn]
refer to caption
Biến động doanh thu xuất khẩu dầu ròng của OPEC từ năm 1972 đến năm 2017.[51][52]

Nhằm đối phó với làn sóng quốc hữu hóa dầu mỏ và giá dầu cao vào thập niên 1970, các nước công nghiệp thực hiện các bước để giảm phụ thuộc vào dầu của OPEC, đặc biệt là sau khi giá dầu đạt đỉnh gần 40 đô la Mỹ / thùng dầu vào năm 1979–1980[53][54] do Cách mạng Hồi giáoChiến tranh Iran – Iraq. Các công ty điện lực trên toàn thế giới chuyển từ dầu mỏ sang than đá, khí thiên nhiên và năng lượng hạt nhân.[55] Các nước thành lập các chương trình nghiên cứu để phát triển các nguồn năng lượng thay thế cho dầu mỏ.[56][57] Các mỏ dầu lớn không thuộc OPEC được thành lập ở Siberia, Alaska, Biển Bắc và Vịnh México.[58]

Đến năm 1986, nhu cầu dầu mỏ toàn cầu hàng ngày giảm 5 triệu thùng dầu, sản lượng dầu ngoài OPEC tăng mạnh[59] và thị phần của OPEC giảm từ khoảng 50% vào năm 1979 xuống dưới 30% vào năm 1985.[28] Giá dầu giảm trong sáu năm, giảm hơn một nửa chỉ trong năm 1986.[60]

Năm 1982, Ả Rập Xê Út gây áp lực lên các nước thành viên OPEC tuân thủ hạn ngạch sản xuất nhằm hạn chế sản lượng và tăng giá, nhưng các nước thành viên OPEC khác từ chối. Ả Rập Xê Út đơn phương cắt giảm sản lượng từ 10 triệu thùng dầu mỗi ngày xuống còn một phần ba mức đó vào năm 1985, nhưng vẫn không hiệu quả trong việc tăng giá dầu. Ả Rập Xê Út quyết định đảo ngược tình thế và sản xuất hàng loạt dầu giá rẻ, làm giảm giá dầu xuống dưới 10 đô la Mỹ / thùng dầu và triệu tiêu lợi nhuận của các nhà sản xuất có chi phí cao hơn.[59][61]:127–128,136–137 Ả Rập Xê Út phải chịu những áp lực kinh tế đáng kể từ việc phá giá dầu. Nguồn thu ngân sách của Ả Rập Xê Út giảm từ 119 tỷ đô la Mỹ vào năm 1981 xuống còn 26 tỷ đô la Mỹ vào năm 1985, dẫn đến thâm hụt ngân sáchnợ chính phủ đạt 100% tổng sản phẩm nội địa.[62]:136–137

Đối mặt với khó khăn kinh tế ngày càng gia tăng,[63][64] các nước xuất khẩu dầu mỏ trước đây không tuân thủ các thỏa thuận của OPEC cuối cùng đồng ý hạn chế sản xuất để tăng giá dầu. Hạn ngạch sản xuất của mỗi nước được quyết định dựa trên các tiêu chí dầu mỏ và kinh tế kể từ năm 1986.[59][65]

1990–2003: Nguồn cung dồi dào và gián đoạn cục bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
refer to caption
Biến động giá dầu thô Brent, 1988–2015.[66]

Nguồn cung dầu mỏ bị gián đoạn trong ngắn hạn do Iraq xâm lược Kuwait vào tháng 8 năm 1990 và Chiến tranh Iran – Iraq.[67] Giá dầu giảm nhanh chóng sau hai cuộc chiến này. Sự kiện 11 tháng 9cuộc tấn công Iraq năm 2003 cũng chỉ tác động ngắn hạn đến giá dầu do Ả Rập Xê Út và những nước xuất khẩu khác hợp tác để đảm bảo nguồn cung.[68]

Tháng 12 năm 1993, Ecuador rút khỏi OPEC vì không muốn trả khoản phí thành viên 2 triệu đô la Mỹ mỗi năm và không muốn tuân thủ hạn ngạch của OPEC.[69] Tháng 1 năm 1995, Gabon đình chỉ tư cách thành viên OPEC vì những lý do tương tự.[70] Ecuador gia nhập lại OPEC vào tháng 10 năm 2007, trong khi Gabon gia nhập lại vào tháng 7 năm 2016. [27] Mặc dù là một thành viên sáng lập của OPEC, nhưng Iraq được miễn tuân thủ hạn ngạch sản xuất OPEC từ năm 1998 đến năm 2016.[71][72]

Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 làm giảm giá dầu trở lại mức năm 1986. Sau khi giá dầu giảm xuống khoảng 10 đô la Mỹ / thùng dầu, OPEC, México và Na Uy đạt thỏa thuận giảm dần sản lượng dầu.[73] Sau khi giá dầu lại giảm mạnh vào tháng 11 năm 2001, OPEC, Na Uy, México, Nga, Oman và Angola đồng ý cắt giảm sản lượng 2 triệu thùng dầu mỗi ngày từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 trong 6 tháng, trong đó OPEC cắt giảm 1,5 triệu thùng dầu mỗi ngày.[61]

Tháng 6 năm 2003, Cơ quan Năng lượng Quốc tế và OPEC tổ chức hội thảo chung đầu tiên về các vấn đề năng lượng. Kể từ đó, hai bên tiếp tục gặp gỡ thường xuyên.[74]

2003–2011: Biến động

[sửa | sửa mã nguồn]
Doanh thu xuất khẩu dầu ròng của OPEC, 2000–2020

Vào đầu thập niên 2000, giá dầu biến động mạnh do sự hội tụ của nhiều yếu tố, bao gồm các cuộc nổi dậy, phá hoại trên diện rộng tại Iraq trong thời gian bị Hoa Kỳ chiếm đóng, nhu cầu dầu mỏ tăng nhanh của Trung Quốc và các nhà đầu tư thị trường hàng hóa, xung đột tại Châu thổ Niger tác động đến ngành công nghiệp dầu mỏ Nigeria và công suất dự phòng suy giảm.[75][76][77] Biến động giá dầu đạt đỉnh điểm trong thời kỳ Đại suy thoái vào năm 2008, khi giá thùng dầu thô WTI đạt mức kỷ lục 147 đô la Mỹ vào tháng 7 rồi giảm xuống còn 32 đô la Mỹ vào tháng 12.[78]

Năm 2008, doanh thu xuất khẩu dầu hàng năm của OPEC cũng lập kỷ lục ở mức khoảng 1 nghìn tỷ đô la Mỹ. Doanh thu hàng năm và việc tái chế petrodollar cũng đạt mức tương tự trong giai đoạn 2011–2014 trước khi giảm mạnh.[79] Tháng 6 năm 2011, OPEC bắt đầu chỉ trích hành vi "đầu cơ quá mức" trên các sàn giao dịch tương lai dầu mỏ làm gia tăng sự biến động giá dầu.[80]

Tháng 5 năm 2008, Indonesia tuyên bố sẽ rút khỏi OPEC vào cuối năm với lý do không thể đáp ứng hạn ngạch sản xuất.[81] OPEC xác nhận việc Indonesia rút khỏi tổ chức và bày tỏ hy vọng rằng Indonesia sẽ gia nhập lại OPEC trong tương lai.[82]

2008: Tranh chấp sản xuất

[sửa | sửa mã nguồn]
refer to caption
Xuất khẩu dầu ròng của các nước, năm 2008

Ngày 10 tháng 9 năm 2008, khi giá dầu vẫn ở mức gần 100 đô la Mỹ / thùng dầu, Ả Rập Xê Út được cho là đã rời khỏi phiên đàm phán sau khi các thành viên biểu quyết giảm sản lượng dầu của OPEC. Mặc dù chính thức tán thành hạn ngạch mới, nhưng các đại biểu của Ả Rập Xê Út tuyên bố ẩn danh rằng họ sẽ không tuân thủ chúng.[83] Trong vài tháng tiếp theo, giá dầu giảm mạnh xuống mức 30 đô la Mỹ / thùng dầu và không trở lại mức 100 đô la Mỹ / thùng dầu cho đến khi Nội chiến Libya năm 2011 nổ ra.[84]

2014–2017: Dư thừa dầu

[sửa | sửa mã nguồn]
refer to caption
Sản lượng dầu các nước, năm 2013

Trong giai đoạn 2014–2015, các thành viên OPEC liên tục vượt mức trần sản lượng dầu và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chậm lại. Đồng thời, sản lượng dầu của Hoa Kỳ gần như tăng gấp đôi so với mức năm 2008 và tiến gần đến sản lượng của các "nhà sản xuất cân bằng" hàng đầu như Ả Rập Xê Út và Nga nhờ sự phát triển của công nghệ thủy lực cắt phá dầu đá phiến để đáp ứng những năm giá dầu kỷ lục. Nhu cầu nhập khẩu dầu của Hoa Kỳ sụt giảm mạnh, dẫn đến lượng dầu tồn kho toàn cầu đạt mức kỷ lục và giá dầu sụp đổ đến đầu năm 2016.[84][85][86]

Ngày 27 tháng 11 năm 2014, Bộ trưởng Dầu mỏ Ả Rập Xê Út Ali Al-Naimi bác bỏ các yêu cầu cắt giảm sản lượng dầu từ các nước thành viên OPEC nghèo để tăng giá dầu. Naimi lập luận rằng nên để thị trường dầu mỏ tự cân bằng một cách cạnh tranh ở mức giá thấp hơn và giành lại thị phần dài hạn của OPEC một cách chiến lược bằng cách triệt tiêu lợi nhuận của ngành sản xuất dầu đá phiến của Hoa Kỳ vốn có chi phí cao.[87]

Khi OPEC họp tại Viên vào ngày 4 tháng 12 năm 2015, OPEC đã vượt trần sản lượng dầu trong 18 tháng liên tiếp. Sản lượng dầu của Hoa Kỳ chỉ giảm nhẹ so với mức đỉnh, thị trường thế giới dường như đang dư cung ít nhất 2 triệu thùng dầu mỗi ngày mặc dù Libya sản xuất dưới công suất 1 triệu thùng dầu mỗi ngày. Các nước sản xuất dầu mỏ thực hiện những điều chỉnh lớn để chịu được giá thấp tới 40 đô la Mỹ / thùng dầu. Indonesia gia nhập lại OPEC và sản lượng của Iraq tăng vọt sau nhiều năm hỗn loạn.[16][86]

Năm 2015, các lệnh trừng phạt quốc tế Iran được dỡ bỏ theo thỏa thuận hạt nhân, cho phép Iran bắt đầu xuất khẩu dầu. Năm 2016, Thỏa thuận Paris về khí hậu được ký kết, cam kết hạn chế phát thải carbon từ nhiên liệu hóa thạch. Công nghệ năng lượng mặt trời ngày càng cạnh tranh và phổ biến hơn. Dưới những áp lực thị trường này, OPEC quyết định tạm đình chỉ mức trần sản lượng dầu cho đến hội nghị cấp bộ trưởng tiếp theo vào tháng 6 năm 2016.[16][86][88]

Ngày 20 tháng 1 năm 2016, Giá dầu tham chiếu của OPEC giảm xuống còn 22,48 đô la Mỹ / thùng dầu, chỉ bằng một phần tư mức cao nhất vào tháng 6 năm 2014 (110,48 đô la Mỹ), một phần sáu mức kỷ lục vào tháng 7 năm 2008 (140,73 đô la Mỹ) và thấp hơn mức khởi điểm vào tháng 4 năm 2003 (23,27 đô la Mỹ) của đợt tăng giá lịch sử.[84]

Tình trạng dư thừa dầu vào năm được giảm bớt một phần nhờ việc ngừng sản xuất đáng kể tại Hoa Kỳ, Canada, Libya, Nigeria và Trung Quốc. Giá rổ dầu dần tăng trở lại mức 40 đô la Mỹ / thùng dầu. OPEC giành lại được một thị phần khiêm tốn và nhiều dự án khoan cạnh tranh bị hủy bỏ. Tại hội nghị tháng 6 năm 2016, OPEC tán thành "mức giá phù hợp cho nhà sản xuất và người tiêu dùng", mặc dù nhiều nhà sản xuất vẫn đang gặp khó khăn kinh tế nghiêm trọng.[89][90][91]

2017–2020: Cắt giảm sản xuất vá OPEC+

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 2016, OPEC chính thức phê duyệt quyết định cắt giảm sản lượng khoảng một triệu thùng dầu mỗi ngày vào tháng 9 năm 2016, lần đầu tiên OPEC cắt giảm sản lượng dầu kể từ năm 2008. Thỏa thuận này không được áp dụng đối với Libya và Nigeria và có hiệu lực trong nửa đầu năm 2017. 11 nước ngoài OPEC, bao gồm Nga, cam kết cắt giảm sản lượng dầu. Tuy nhiên, sự gia tăng sản lượng dầu đá phiến của Hoa Kỳ, Libya, Nigeria, công suất dự phòng và sản lượng OPEC vào cuối năm 2016 trước khi thỏa thuận có hiệu lực bù vào việc cắt giảm.[92][93][30]

Indonesia lại tuyên bố "tạm đình chỉ" tư cách thành viên OPEC thay vì chấp nhận cắt giảm sản lượng dầu 5% theo yêu cầu của OPEC. Giá dầu dao động quanh mức 50 đô la Mỹ / thùng dầu. Tháng 5 năm 2017, OPEC quyết định duy trì cắt giảm cho đến tháng 3 năm 2018 nhằm tạo điều kiện tiêu thụ hết liệu lượng dầu dư thừa vào thời điểm đó.[92][93][30] Nhà phân tích dầu mỏ Daniel Yergin nhận xét rằng OPEC đang học cách sống chung với ngành dầu đá phiến.[94]

Tháng 12 năm 2017, Nga và OPEC đồng ý duy trì việc cắt giảm sản lượng 1,8 triệu thùng dầu / ngày cho đến cuối năm 2018.[95][96] Ngày 3 tháng 12 năm 2018, Qatar tuyên bố sẽ rút khỏi OPEC kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2019. Tháng 10 năm 2019, Ecuador tuyên bố sẽ rút khỏi OPEC kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2020 do những khó khăn tài chính. Tháng 12 năm 2019, OPEC và Nga đồng ý cắt giảm sản lượng thêm 500.000 thùng dầu mỗi ngày trong ba tháng đầu năm 2020.

2020: Chiến tranh giá dầu Nga–Ả Rập Xê Út

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 2020, OPEC đề xuất cắt giảm sản lượng 1,5 triệu thùng dầu mỗi ngày và yêu cầu Nga đảm nhận một phần việc cắt giảm, nhằm đối phó với việc Hoa Kỳ tăng sản lượng dầu đá phiếnnhu cầu toàn cầu suy yếu do đại dịch COVID-19.[97] Tuy Ả Rập Xê Út đồng ý cắt giảm 1 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhưng Nga bác bỏ yêu cầu này.[98] Thỏa thuận cắt giảm 2,1 triệu thùng dầu mỗi ngày của OPEC+ hết hạn vào cuối tháng 3. Nhằm đáp trả, Ả Rập Xê Út thông báo sẽ tăng sản lượng dầu và giảm giá dầu trong tháng 4, làm giảm giá dầu thô Brent hơn 30% và gây biến động trên thị trường tài chính.[98]

Tính đến tháng 3 năm 2020, Ả Rập Xê Út có 500 tỷ đô la Mỹ dự trữ ngoại hối, trong khi Nga có 580 tỷ đô la Mỹ dự trữ ngoại hối. Tỷ lệ nợ trên GDP của Ả Rập Xê Út là 25%, trong khi tỷ lệ của Nga là 15%.[99] Tuy nhiên, Ả Rập Xê Út có thể bán dầu với mức giá thấp tới 3 đô la Mỹ một thùng dầu, trong khi Nga cần 30 đô la Mỹ một thùng dầu để trang trải chi phí sản xuất.[100] Một nhà phân tích nhận định rằng sở dĩ Nga phá giá dầu không chỉ đơn thuần là để giành lại thị phần dầu mỏ, mà còn để gây thiệt hại cho các nền kinh tế phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ[101]

Tháng 4 năm 2020, OPEC và một nhóm các nước sản xuất dầu khác, bao gồm Nga, đồng ý duy trì cắt giảm sản lượng dầu cho đến cuối tháng 7. OPEC và các đồng minh đồng ý cắt giảm sản lượng dầu trong tháng 5 và tháng 6 ở mức 9,7 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương khoảng 10% sản lượng toàn cầu, nhằm tăng giá dầu, vốn trước đó giảm xuống mức thấp kỷ lục.[102]

2021: Tranh chấp Ả Rập Xê Út - Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 2021, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bác bỏ đề xuất của Ả Rập Xê Út về việc duy trì cắt giảm sản lượng dầu mỏ thêm tám tháng, được áp dụng do đại dịch COVID-19 và mức tiêu thụ dầu suy giảm.[103][104] Năm 2020, OPEC+ cắt giảm tương đương khoảng 10% nhu cầu dầu mỏ vào thời điểm đó. UAE yêu cầu OPEC+ cho phép UAE nâng mức sản lượng dầu tối đa lên 3,8 triệu thùng dầu mỗi ngày so với mức 3,2 triệu thùng trước đó. Một thỏa thuận thỏa hiệp cho phép UAE tăng sản lượng dầu tối đa lên 3,65 triệu thùng dầu mỗi ngày.[105]

Thỏa thuận cũng cho phép Nga tăng sản lượng dầu từ 11 triệu thùng dầu lên 11,5 triệu thùng dầu mỗi ngày vào tháng 5 năm 2022. Tất cả các thành viên sẽ tăng sản lượng 400.000 thùng dầu mỗi ngày mỗi tháng từ tháng 8 để bù vào những đợt cắt giảm trước đó do đại dịch COVID-19.[106]

2021–2023: Khủng hoảng năng lượng toàn cầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Giá năng lượng đạt mức cao kỷ lục do sự gia tăng nhu cầu toàn cầu khi nền kinh tế thế giới phục hồi sau đại dịch COVID-19, đặc biệt là nhu cầu năng lượng mạnh mẽ ở châu Á.[107][108][109] Tháng 8 năm 2021, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Jake Sullivan đề nghị OPEC+ tăng sản lượng dầu để "bù đắp cho việc cắt giảm sản lượng trước đó mà OPEC+ đã áp đặt trong đại dịch cho đến năm 2022."[110] Ngày 28 tháng 9 năm 2021, Sullivan gặp Thái tử Ả Rập Xê Út Mohammed bin Salman để thảo luận về giá dầu.[111] Tháng 10 năm 2021, giá dầu vàolà khoảng 80 đô la Mỹ,[112][113][114] mức cao nhất kể từ năm 2014.[115] Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden và Bộ trưởng Năng lượng Hoa Kỳ Jennifer Granholm quy trách nhiệm cho OPEC+ về giá dầu và khí đốt tăng cao.[116][117][118]

Tháng 2 năm 2022, Nga xâm lược Ukraina, làm thay đổi thương mại dầu mỏ toàn cầu. Liên minh châu Âu đề xuất cấm nhập khẩu phần lớn lượng dầu thô từ Nga, nhưng ngay cả trước khi lệnh cấm được ban hành, lượng nhập khẩu vào Tây Bắc Âu đã giảm. Hiện nay, Nga bán phần lớn dầu cho Ấn Độ và Trung Quốc.[119]

Tháng 10 năm 2022, các bộ trưởng chủ chốt của OPEC+ đồng ý cắt giảm sản lượng dầu 2 triệu thùng dầu mỗi ngày, lần cắt giảm sản lượng đầu tiên kể từ năm 2020.[120] Quyết định này làm dấy lên lại sự quan tâm về việc thông qua NOPEC.[121]

2022: Cắt giảm sản lượng dầu

[sửa | sửa mã nguồn]
Tổng thống Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Mohamed bin Zayed Al Nahyan và Tổng thống Nga Vladimir Putin, sau khi OPEC+ cắt giảm sản lượng dầu, 11 tháng 10 năm 2022[122]

Tháng 10 năm 2022, OPEC+ tuyên bố cắt giảm mạnh sản lượng dầu để hỗ trợ Nga.[123][124] Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden cảnh báo sẽ có "hậu quả" và nói rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ "đánh giá lại" mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ả Rập Xê Út.[125] Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ Robert Menendez đề nghị đóng băng hợp tác và ngừng bán vũ khí cho Ả Rập Xê Út, đồng thời cáo buộc Ả Rập Xê Út gián tiếp hỗ trợ tài chính cho Nga trong Chiến tranh Nga – Ukraina.[126]

Bộ Ngoại giao Ả Rập Xê Út phản bác rằng quyết định của OPEC+ là "hoàn toàn mang tính kinh tế" và được tất cả các thành viên nhất trí thông qua.[127][128] Nhà Trắng cáo buộc Ả Rập Xê Út gây áp lực buộc những nước thành viên OPEC khác đồng ý cắt giảm sản lượng và cho biết Hoa Kỳ đã trình bày với Ả Rập Xê Út một phân tích cho thấy việc cắt giảm sản lượng là không có cơ sở thị trường. Người phát ngôn Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ John Kirby cáo buộc Ả Rập Xê Út biết rằng quyết định này sẽ "làm tăng doanh thu của Nga và làm giảm hiệu quả của các lệnh trừng phạt" đối với Nga.[129][130]

Năm 2023, Cơ quan Năng lượng Quốc tế dự đoán rằng nhu cầu nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí đốt tự nhiên và than đá sẽ đạt đỉnh điểm vào năm 2030 rồi suy giam.[131] OPEC bác bỏ dự báo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế vì thường đi kèm với lời kêu gọi ngừng đầu tư vào các dự án dầu khí.[132]

Tháng 11 năm 2024, S&P Global cáo buộc Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất không thực hiện cắt giảm sản lượng dầu theo OPEC mà sản xuất nhiều hơn khoảng 700.000 thùng dầu so với hạn ngạch đã thỏa thuận, tức là 2,91 triệu thùng dầu mỗi ngày. Các nhà phân tích khẳng định rằng việc UAE vi phạm hạn ngạch sẽ phá hoại nỗ lực tăng giá dầu của Ả Rập Xê Út và Nga bằng cách cắt giảm sản lượng dầu.[133]

2025–2026: Tăng sản lượng dầu và Chiến tranh Iran

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2025, OPEC+ bắt đầu đảo ngược việc cắt giảm sản lượng tự nguyện. Tính đến tháng 9 năm 2025, OPEC đã cắt giảm khoảng 2,5 triệu thùng dầu mỗi ngày—tương đương với ~2,4% nhu cầu toàn cầu.[134] OPEC+ tuyên bố sẽ tiếp tục đảo ngược việc cắt giảm và cho biết sẽ tăng sản lượng thêm 137.000 thùng dầu mỗi ngày vào tháng 10.[135]

Tháng 2 năm 2026, Ả Rập Xê Út tăng sản lượng dầu.[136] Sau khi Hoa Kỳ và Israel tấn công Iran vào tháng 3 năm 2026, OPEC đồng ý tăng sản lượng dầu khoảng 200.000 thùng để giúp giảm thiểu những gián đoạn tiềm tàng từ cuộc chiến.[137] Khi Iran bắt đầu phong tỏa eo biển Hormuz, ngăn cản các tàu chở dầu rời khỏi Vịnh Ba Tư, một số nước OPEC như Kuwait buộc phải cắt giảm sản lượng dầu.[138] Đến giữa tháng 4 năm 2026, Chiến tranh Iran đã làm giảm sản lượng dầu của các nước láng giềng từ 23% đến 61%.[139]

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, nước sản xuất lớn thứ ba trong OPEC vào thời điểm đó, tuyên bố rút khỏi OPEC và OPEC+ kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2026.[140] UAE tuyên bố có thể tăng sản lượng dầu vượt tầm kiểm soát của OPEC. Một nhà phân tích của Viện Các quốc gia vùng Vịnh Ả Rập nhận xét quyết định của UAE là một "tuyên ngôn độc lập" khỏi các thể chế không phù hợp với lợi ích của UAE và là sự bác bỏ ảnh hưởng của Ả Rập Xê Út, bắt nguồn từ sự khác biệt ngày càng lớn giữa chính sách đối ngoại của UAE và các nước láng giềng.[141]

Thành viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 5 năm 2026, OPEC có 11 nước thành viên: bốn nước Trung Đông (Tây Á), sáu nước châu Phi và một nước Nam Mỹ.[142] Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ, OPEC chiếm 44% tổng sản lượng dầu của thế giới vào năm 2016 (bao gồm khí ngưng tụ)[143] và 81,5% trữ lượng dầu "đã được tìm thấy" của thế giới. Các báo cáo từ năm 2022 cho thấy các nước thành viên OPEC chiếm khoảng 38% tổng sản lượng dầu thô của thế giới.[6] Ước tính rằng các nước thành viên OPEC nắm giữ 79,5% trữ lượng dầu đã được tìm thấy của toàn cầu, trong đó Trung Đông chiếm 67,2% trữ lượng của OPEC.[8]

Việc kết nạp một nước thành viên mới phải được ít nhất ba phần tư số nước thành viên OPEC tán thành, bao gồm tất cả năm nước thành viên sáng lập.[15] Tháng 10 năm 2015, Sudan nộp đơn xin gia nhập OPEC.[144]

Quốc gia Vùng Ngày gia nhập[27][30] Dân số

(2022)[145][146]

Diện tích

(km2)[147][148]

Sản lượng dầu thô (thùng/ngày, 2023)[A][150] Trữ lượng dầu mỏ

(thùng, 2022)[151][148]

 Algeria Bắc Phi Năm 1969 44,903,220 2,381,740 1,183,096 12,200,000,000
 Cộng hòa Congo Trung Phi Năm 2018[152] 5,970,000 342,000 261,986 1,810,000,000
 Guinea Xích đạo Trung Phi Năm 2017 1,674,910 28,050 88,126 1,100,000,000
 Gabon Trung Phi
  • 1975–1995,
  • Từ năm 2016
2,388,990 267,667 204,273 2,000,000,000
 Iran Trung Đông Năm 1960[B] 88,550,570 1,648,195 3,623,455 208,600,000,000
 Iraq Trung Đông Năm 1960[B] 44,496,120 437,072 4,341,410 145,020,000,000
 Kuwait Trung Đông Năm 1960[B] 4,268,870 17,820 2,709,958 101,500,000,000
 Libya Bắc Phi Năm 1962 6,812,340 1,759,540 1,225,430 48,360,000,000
 Nigeria Tây Phi Năm 1971 218,541,210 923,768 1,441,674 36,970,000,000
 Ả Rập Xê Út Trung Đông Năm 1960[B] 36,408,820 2,149,690 9,733,479 267,190,000,000
 Venezuela Nam Mỹ Năm 1960[B] 28,301,700 916,445 750,506 303,220,000,000
Tổng cộng OPEC 491,757,880 10,955,392 28,956,906 1,240,970,000,000
Tổng cộng thế giới 7,951,150,000 510,072,000 81,803,545 1,564,441,000,000
Tỷ lệ OPEC 6.18% 2.14% 35.39% 79%

OPEC+ là một nhóm các nước không phải là thành viên OPEC tham gia vào các sáng kiến của OPEC, ví dụ như tự nguyện cắt giảm nguồn cung, nhằm phối hợp các mục tiêu chính sách giữa OPEC và các nước không phải thành viên OPEC.[153] Hiện tại, OPEC+ gồm Azerbaijan, Bahrain, Brunei, Brasil, Kazakhstan, Malaysia, México, Oman, Nga, Nam SudanSudan.[154][155]

Từ thập niên 1980, các đại diện từ Canada, Ai Cập, México, Na Uy, Oman, Nga và các nước xuất khẩu dầu mỏ khác tham dự nhiều cuộc họp của OPEC với tư cách là quan sát viên.[156]

Cựu thành viên

[sửa | sửa mã nguồn]
Quốc gia Vùng Thời gian[157] Dân số

(2022)[158][159]

Diện tích

(km2)[160]

Sản lượng dầu thô

(thùng/ngày, 2023)[161]

Trữ lượng dầu mỏ

(2022)[162](tr22)

 Angola Nam Phi
35,588,987 1,246,700 1,144,402 2,550,000,000
 Ecuador Nam Phi 18,001,000 283,560 475,274 8,273,000,000
 Indonesia Đông Nam Á
  • 1962–2008,
  • Tháng 1 – tháng 11 năm 2016
275,501,000 1,904,569 608,299 2,250,000,000
 Qatar Trung Đông 1961–2019[164] 2,695,122 11,437 1,322,000 25,244,000,000
 UAE Trung Đông 1967 – tháng 5 năm 2026[C] 9,441,130 83,600 3,393,506 113,000,000,000

Thông tin thị trường

[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn phẩm và nghiên cứu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2001, OPEC, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, Cục Thống kê Liên minh châu Âu, Cơ quan Năng lượng Quốc tế, Tổ chức Năng lượng Mỹ Latinh [es] và Cục Thống kê Liên Hợp Quốc thành lập Chương trình Dữ liệu Dầu mỏ Chung nhằm cải thiện tính khả dụng và độ tin cậy của dữ liệu dầu mỏ. Năm 2005, Diễn đàn Năng lượng Quốc tế tham gia chương trình và chương trình đổi tên thành Sáng kiến Dữ liệu của các Tổ chức Chung (JODI), bao phủ hơn 90% thị trường dầu mỏ toàn cầu. Năm 2014, Diễn đàn các nước xuất khẩu khí thiên nhiên tham gia chương trình, cho phép JODI bao phủ gần 90% thị trường khí thiên nhiên toàn cầu.[166]

Chuẩn mực dầu thô

[sửa | sửa mã nguồn]

Rổ dầu thô tham chiếu của OPEC là một chuẩn mực quan trọng cho giá dầu kể từ năm 2000. Rổ dầu là trung bình có trọng số của giá các loại dầu hỗn hợp từ các nước thành viên OPEC: Saharan Blend (Algérie), Girassol (Angola), Djeno (Cộng hòa Congo), Rabi Light (Gabon), Iran Heavy (Iran), Basra Light (Iraq), Kuwait Export (Kuwait), Es Sider (Libya), Bonny Light (Nigeria), Arab Light (Ả Rập Xê Út), Murban (UAE) và Merey (Venezuela).[167]

  Urals oil (Russian export mix)
  OPEC Basket Price

Công suất dự phòng

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 2014, Cơ quan Năng lượng Quốc tế ước tính rằng công suất dự phòng "thực tế" của OPEC là 3,5 triệu thùng trên ngày (560.000 m3/d) sau khi điều chỉnh theo những gián đoạn ra các nước như Libya và Nigeria. Năm 2017, công suất dự phòng của OPEC đạt mức cao nhất là 4,6 triệu thùng trên ngày (730.000 m3/d).[168]

  1. One petroleum barrel (bbl) is approximately 42 U.S. gallons, or 159 liters, or 0.159 m3, varying slightly with temperature. To put the production numbers in context, a supertanker typically holds 2,000,000 barrels (320,000 m3),[149] and the world's current production rate would take approximately 56 years to exhaust the world's current proven reserves.
  2. 1 2 3 4 5 Năm nước thành viên sáng lập tham dự hội nghị OPEC đầu tiên vào tháng 9 năm 1960.
  3. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất được thành lập vào tháng 12 năm 1971, nhưng Tiểu vương quốc Abu Dhabi thuộc Các Quốc gia Đình chiến gia nhập OPEC vào năm 1967.[165]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "GLOSSARY". U.S. Energy Information Administration. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2024.
  2. Jelley, Nick (ngày 19 tháng 1 năm 2017), "OPEC", A Dictionary of Energy Science (bằng tiếng Anh), Oxford University Press, doi:10.1093/acref/9780191826276.001.0001, ISBN 978-0-19-182627-6, truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2024
  3. español, JON GAMBRELL Leer en (ngày 28 tháng 4 năm 2026). "United Arab Emirates says it will leave OPEC, a blow to the oil cartel". AP News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2026.
  4. Domonoske, Camila (ngày 28 tháng 4 năm 2026). "The United Arab Emirates is quitting OPEC oil cartel after nearly 60 years". NPR (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2026.
  5. "The UAE's departure from OPEC may not break the cartel". The Economist. ISSN 0013-0613. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2026.
  6. 1 2 "Where our oil comes from - U.S. Energy Information Administration (EIA)". www.eia.gov. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2024.
  7. "Opec: What is it and what is happening to oil prices?". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 5 năm 2022.
  8. 1 2 "OPEC Share of World Crude Oil Reserves". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2024.
  9. 1 2 Colgan 2021, The Rise of OPEC, pp. 59–93.
  10. Colgan, Jeff D. (2021). "The Stagnation of OPEC". Partial Hegemony: Oil Politics and International Order. Oxford University Press. tr. 94–118. doi:10.1093/oso/9780197546376.001.0001. ISBN 978-0-19-754637-6.
  11. LeClair, Mark S. (ngày 8 tháng 7 năm 2016) [2000]. "The History and Evaluation of Significant commodity Cartels". International Commodity Markets and the Role of Cartels . Abingdon: Routledge. tr. 81. ISBN 978-1-315-50088-1. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2023. OPEC, the most notorious of the modern cartels, functioned effectively for only thirteen years.
  12. Terhechte, Jörg Philipp (ngày 1 tháng 12 năm 2009). "Applying European Competition Law to International Organizations: The Case of OPEC". Trong Herrmann, Christoph; Terhechte, Jörg Philipp (biên tập). European Yearbook of International Economic Law 2010. Heidelberg: Springer Science & Business Media. tr. 195. ISBN 978-3-540-78883-6. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2023. [...] the question whether OPEC's activities, those of its member states and those of the state-owned enterprises are protected by the principle of State Immunity is to be answered in accordance with the preconditions set by the UN Convention as an expression of common principles of International law. [...] The crucial question [...] in terms of International law is: 'Is OPEC engaged in commercial activities or not?'
  13. "JMMC sees improving market conditions and conformity levels". OPEC. ngày 15 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2024.
  14. El Gamal, Rania (ngày 15 tháng 7 năm 2020). Edmund, Blair (biên tập). "OPEC+ panel agrees on easing oil cuts, compensation plan, says OPEC+ source". Reuters. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2024.
  15. 1 2 "Statute" (PDF). OPEC. 2012. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014.
  16. 1 2 3 "OPEC discord fuels further oil price drop". Financial Times. ngày 7 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2022.
  17. 1 2 "General Information" (PDF). OPEC. tháng 5 năm 2012. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2014.
  18. 1 2 3 4 Yergin, Daniel (1991). The Prize: The Epic Quest for Oil, Money, and Power. New York: Simon & Schuster. tr. 499–503. ISBN 978-0-671-50248-5.
  19. 1 2 Painter, David S. (2012). "Oil and the American Century". The Journal of American History. 99 (1): 24–39. doi:10.1093/jahist/jas073.
  20. Vassiliou, M.S. (2009). Historical Dictionary of the Petroleum Industry. Scarecrow Press. tr. 7. ISBN 978-0-8108-6288-3.
  21. Styan, David (2006). France and Iraq: Oil, Arms and French Policy Making in the Middle East. I.B. Tauris. tr. 74. ISBN 978-1-84511-045-1.
  22. Citino, Nathan J. (2002). From Arab Nationalism to OPEC: Eisenhower, King Sa'ud, and the Making of US-Saudi Relations. Bloomington: Indiana University Press. tr. 4. ISBN 978-0-253-34095-5.
  23. Skeet, Ian (1988). OPEC: Twenty-Five Years of Prices and Politics. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 24. ISBN 978-0-521-40572-0. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015.
  24. "Switzerland Reduces Her Foreign Population". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 6 năm 1965.
  25. "OPEC: Thank you Austria – thank you Vienna!". www.opec.org. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2023.
  26. 1 2 3 4 Colgan 2021, The Rise of OPEC, pp. 73–78.
  27. 1 2 3 "Member Countries". OPEC. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2020.
  28. 1 2 Denning, Liam (ngày 1 tháng 6 năm 2016). "How OPEC Won the Battle and Lost the War". Bloomberg News. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017.
  29. "Angola, Sudan to ask for OPEC membership". Associated Press. ngày 3 tháng 12 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2006.
  30. 1 2 3 4 "OPEC 172nd Meeting concludes" (Thông cáo báo chí). OPEC. ngày 11 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017.
  31. "OPEC: Fifty Years Regulating Oil Market Roller Coaster". Inter Press Service. ngày 14 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  32. Colgan 2021, The Rise of OPEC, pp. 79–85.
  33. Kumins, Lawrence (1975). "Oil and the Economy". Energy Shock: 189.
  34. 1 2 3 4 Maugeri, Leonardo (2006). The Age of Oil: The Mythology, History, and Future of the World's Most Controversial Resource. Greenwood Publishing Group. tr. 112–116. ISBN 978-0-275-99008-4. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
  35. Foreign Relations of the United States, 1964–1968, Vol. XXXIV: Energy Diplomacy and Global Issues, Document 266. US Department of State. 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016.
  36. "British Economics and Trade Union politics 1973–1974". The National Archives (UK). tháng 1 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2015.
  37. "Europe car ban becoming a real traffic stopper". Chicago Tribune. ngày 26 tháng 11 năm 1973. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016.
  38. Frum, David (2000). How We Got Here: The '70s. Basic Books. tr. 313–318. ISBN 978-0-465-04195-4.
  39. "Gas Fever: Happiness Is a Full Tank". Time. ngày 18 tháng 2 năm 1974. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2015.
  40. Skidelsky, Robert (2009). Keynes: The Return of the Master. Allen Lane. tr. 116–126. ISBN 978-1-84614-258-1.
  41. Masouros, Pavlos E. (2013). Corporate Law and Economic Stagnation: How Shareholder Value and Short-Termism Contribute to the Decline of the Western Economies. Eleven International Publishing. tr. 60–62.
  42. 1 2 "Energy Crisis (1970s)". The History Channel. 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2015.
  43. 1 2 Horton, Sarah (tháng 10 năm 2000). "The 1973 Oil Crisis" (PDF). Pennsylvania Envirothon. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013.
  44. "Oil Shock: The role of OPEC". Socialism Today (51). tháng 10 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2014.
  45. Aven, Petr; Nazarov, Vladimir; Lazaryan, Samvel (ngày 17 tháng 5 năm 2016). "Twilight of the Petrostate". The National Interest. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2016.
  46. Oweiss, Ibrahim M. (1990). "Economics of Petrodollars". Trong Esfandiari, Haleh; Udovitch, A.L. (biên tập). The Economic Dimensions of Middle Eastern History. Darwin Press. tr. 179–199. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016.
  47. Hubbard, Ben (ngày 21 tháng 6 năm 2015). "Cables Released by WikiLeaks Reveal Saudis' Checkbook Diplomacy". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016.
  48. "About Us". OFID. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016.
  49. "The Agreement Establishing the OPEC Fund for International Development" (PDF). OPEC. ngày 27 tháng 5 năm 1980. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2016.
  50. "Intergovernmental Organizations". United Nations. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2017.
  51. "OPEC Revenues Fact Sheet". US Energy Information Administration. ngày 10 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2008.
  52. "OPEC Revenues Fact Sheet". US Energy Information Administration. ngày 15 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2017.
  53. Mouawad, Jad (ngày 3 tháng 3 năm 2008). "Oil Prices Pass Record Set in '80s, but Then Recede". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2017.
  54. Denning, Liam (ngày 18 tháng 5 năm 2016). "It's Saudi Arabia's World. Big Oil Just Lives in It". Bloomberg News. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017.
  55. Toth, Ferenc L.; Rogner, Hans-Holger (tháng 1 năm 2006). "Oil and nuclear power: Past, present, and future" (PDF). Energy Economics. 28 (1): 1–25. Bibcode:2006EneEc..28....1T. doi:10.1016/j.eneco.2005.03.004. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2015.
  56. "Renewables in Global Energy Supply: An IEA Fact Sheet" (PDF). International Energy Agency. tháng 1 năm 2007. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2015.
  57. "Renewable Energy: World Invests $244 billion in 2012, Geographic Shift to Developing Countries" (Thông cáo báo chí). United Nations Environment Programme. ngày 12 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2015.
  58. Bromley, Simon (2013). American Power and the Prospects for International Order. John Wiley & Sons. tr. 95. ISBN 978-0-7456-5841-4. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2015.
  59. 1 2 3 Robert, Paul (2004). The End of Oil: The Decline of the Petroleum Economy and the Rise of a New Energy Order. New York: Houghton Mifflin Company. tr. 103–104. ISBN 978-0-618-23977-1.
  60. Hershey, Robert D. Jr. (ngày 30 tháng 12 năm 1989). "Worrying Anew Over Oil Imports". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2017.
  61. 1 2 Al-Naimi, Ali (2016). Out of the Desert. Great Britain: Portfolio Penguin. tr. 201–210, 239. ISBN 978-0-241-27925-0.
  62. Al-Naimi, Ali (2016). Out of the Desert. Great Britain: Portfolio Penguin. tr. 136–137. ISBN 978-0-241-27925-0.
  63. Gaidar, Yegor (tháng 4 năm 2007). "The Soviet Collapse: Grain and Oil" (PDF). American Enterprise Institute. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2016. Oil production in Saudi Arabia increased fourfold, while oil prices collapsed by approximately the same amount in real terms. As a result, the Soviet Union lost approximately $20 billion per year, money without which the country simply could not survive.
  64. McMaken, Ryan (ngày 7 tháng 11 năm 2014). "The Economics Behind the Fall of the Berlin Wall". Mises Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2016. High oil prices in the 1970s propped up the regime so well, that had it not been for Soviet oil sales, it's quite possible the regime would have collapsed a decade earlier.
  65. "Brief History". OPEC. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013.
  66. "Europe Brent Crude Oil Spot Price FOB (DOE)". Quandl. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2016.
  67. Ibrahim, Youssef M. (ngày 18 tháng 7 năm 1990). "Iraq Threatens Emirates and Kuwait on Oil Glut". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2017.
  68. "Europe Brent Spot Price FOB". www.eia.gov. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2024.
  69. "Ecuador Set to Leave OPEC". The New York Times. Associated Press. ngày 18 tháng 9 năm 1992. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016.
  70. "Gabon Plans To Quit OPEC". The New York Times. Bloomberg News. ngày 9 tháng 1 năm 1995. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016.
  71. "Annual Statistical Bulletin". OPEC. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2015.
  72. "Iraq heads for OPEC clash over quota". United Press International. ngày 5 tháng 2 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016. Iraq, a founding member of OPEC, has not had a production quota since 1998, when it was pegged at 1.3 million bpd to allow Saddam Hussein's regime to sell oil for food during U.N. sanctions imposed in 1990... Despite the success of the 2009 auctions, problems remain – mounting violence in the run-up to March 7 parliamentary elections, uncertainty over their outcome, and, probably more importantly, the absence of a long-delayed oil law that will define revenue-sharing and regulation of the industry.
  73. Putting a Price on Energy (PDF). Energy Charter Secretariat. 2007. tr. 90. ISBN 978-90-5948-046-9. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2016.
  74. "Dialogue replaces OPEC–IEA Mistrust" (PDF). IEA Energy (7): 7. tháng 11 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2016.
  75. Simmons, Greg (ngày 7 tháng 12 năm 2005). "Dems Doubt Iraq Progress". Fox News. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2016.
  76. "Oil price 'may hit $200 a barrel'". BBC News. ngày 7 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2016.
  77. Masters, Michael W. (ngày 20 tháng 5 năm 2008). "Testimony" (PDF). U.S. Senate Committee on Homeland Security and Governmental Affairs. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2016.
  78. Tuttle, Robert; Galal, Ola (ngày 10 tháng 5 năm 2010). "Oil Ministers See Demand Rising". Bloomberg News. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2016.
  79. "OPEC Revenues Fact Sheet". US Energy Information Administration. ngày 15 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2017.
  80. "Opening address to the 159th Meeting of the OPEC Conference" (Thông cáo báo chí). ngày 8 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014.
  81. "Indonesia to withdraw from OPEC". BBC. ngày 28 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2014.
  82. "149th Meeting of the OPEC Conference" (Thông cáo báo chí). ngày 10 tháng 9 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015.
  83. Jad Mouawad (ngày 11 tháng 9 năm 2008). "Saudis Vow to Ignore OPEC Decision to Cut Production". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2017.
  84. 1 2 3 "OPEC Basket Daily Archives". OPEC. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2016.
  85. Krassnov, Clifford (ngày 3 tháng 11 năm 2014). "US Oil Prices Fall Below $80 a Barrel". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2014.
  86. 1 2 3 Smith, Grant; Rascouet, Angelina; Mahdi, Wael (ngày 4 tháng 12 năm 2015). "OPEC Won't Cut Production to Stop Oil's Slump". Bloomberg News. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017.
  87. "Inside OPEC room, Naimi declares price war on US shale oil". Reuters. ngày 28 tháng 11 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016.
  88. Kalantari, Hashem; Sergie, Mohammed (ngày 2 tháng 1 năm 2016). "Iran Says Post-Sanctions Crude Output Boost Won't Hurt Prices". Bloomberg News. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2016.
  89. "OPEC 169th Meeting concludes" (Thông cáo báo chí). ngày 2 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2016.
  90. Halligan, Liam (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "OPEC is very much alive as Saudis learn to tread softly". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018.
  91. "North America Rig Count". Baker Hughes. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017.
  92. 1 2 Jensen, Fergus; Asmarini, Wilda (ngày 1 tháng 12 năm 2016). "Net oil importer Indonesia leaves producer club OPEC, again". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2016.
  93. 1 2 "OPEC 171st Meeting concludes" (Thông cáo báo chí). ngày 30 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016.
  94. "OPEC Said to Break Bread With Shale in Rare Show of Detente". Bloomberg News. ngày 7 tháng 3 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017.
  95. "Russia backs gradual, managed exit from oil cuts with OPEC". Reuters. ngày 22 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2017.
  96. "OPEC to extend production cuts throughout 2018". ngày 30 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  97. Mufson, Steven; Englund, Will. "Oil price war threatens widespread collateral damage". The Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020.
  98. 1 2 Reed, Stanley (ngày 9 tháng 3 năm 2020). "How a Saudi-Russian Standoff Sent Oil Markets into a Frenzy". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020.
  99. Reguly, Eric (ngày 10 tháng 3 năm 2020). "Who will win the Saudi-Russia game of chicken in the new oil war? Russia's chances look good". The Globe and Mail Inc.
  100. Powell, Naomi (ngày 9 tháng 3 năm 2020). "'Game of chicken': Saudis, Russians can wage an oil war for a long time – but at huge political cost". Financial Post. Postmedia.
  101. Tertzakian, Peter (ngày 9 tháng 3 năm 2020). "This crude war is about a lot more than oil prices and market share". Financial Post. Postmedia. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2024.
  102. "From The Economist Espresso: Minneapolis to disband its police force; New Zealand eliminates covid-19". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2020.
  103. "OPEC+ abandons oil policy meeting after Saudi-UAE clash". Reuters. ngày 5 tháng 7 năm 2021.
  104. "The Saudi-UAE Bust-Up Is A Return To The Persian Gulf Status Quo". Forbes. ngày 16 tháng 7 năm 2021.
  105. "OPEC Reaches Compromise With U.A.E. Over Oil Production". The Wall Street Journal. ngày 14 tháng 7 năm 2021.
  106. "OPEC+ Reaches Agreement On Oil Output Increase; Russia To Boost Production". RFEL. ngày 18 tháng 7 năm 2021.
  107. "Covid is at the center of world's energy crunch, but a cascade of problems is fueling it". NBC News. ngày 8 tháng 10 năm 2021.
  108. "Don't Expect OPEC to Keep You Warm This Winter". Bloomberg. ngày 17 tháng 10 năm 2021.
  109. "Oil prices could hit an 'off the charts spike,' says strategist". CNBC. ngày 5 tháng 10 năm 2021.
  110. "Turning to foreign leaders to fix our energy crisis is a shameful solution". The Hill. ngày 16 tháng 8 năm 2021.
  111. "Top White House aide discussed oil prices with Saudi Arabia". Reuters. ngày 1 tháng 10 năm 2021.
  112. "Global energy crunch, US burnout, and OPEC's no 1 call". Al-Jazeera. ngày 1 tháng 10 năm 2021.
  113. "Oil analysts predict a prolonged rally as OPEC resists calls to ramp up supply". CNBC. ngày 5 tháng 10 năm 2021.
  114. "OPEC-Plus in Driver's Seat As Global Energy Crisis Intensifies". Natural Gas Intelligence. ngày 6 tháng 10 năm 2021.
  115. "U.S. crude oil price tops $80 a barrel, the highest since 2014". CNBC. ngày 8 tháng 10 năm 2021.
  116. "US energy secretary blames Opec 'cartel' for high petrol prices". Financial Times. ngày 31 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2022.
  117. "Biden blames higher oil and gas prices on OPEC". Reuters. ngày 2 tháng 11 năm 2021.
  118. "OPEC+ warns of response as Biden readies to tap strategic reserve". Al Jazeera. ngày 22 tháng 11 năm 2021.
  119. Stevens, Pippa (ngày 31 tháng 5 năm 2022). "These charts show how Russia's invasion of Ukraine has changed global oil flows". CNBC. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2022.
  120. "OPEC+ JMMC agrees oil output cuts of 2 mln bpd – sources". Reuters. ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2022.
  121. Ari Natter (ngày 10 tháng 10 năm 2022). "Why 'NOPEC' Keeps Arising as a U.S. Answer to OPEC". The Washington Post. Bloomberg News. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2023.
  122. "Putin hosts United Arab Emirates leader for economic talks". Associated Press. ngày 11 tháng 10 năm 2022.
  123. Brower, Derek; Sheppard, David; England, Andrew; Schwartz, Felicia (ngày 7 tháng 10 năm 2022). "The new oil war: Opec moves against the US". Financial Times. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2022.
  124. Sheppard, David; Brower, Derek (ngày 5 tháng 10 năm 2022). "Saudi Arabia and Russia plan deep oil cuts in defiance of US". Financial Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022.
  125. Holland, Steve (ngày 13 tháng 10 năm 2022). "Biden vows consequences for Saudi Arabia after OPEC+ decision". Reuters.
  126. Kirchgaessner, Stephanie; Borger, Julian (ngày 13 tháng 10 năm 2022). "Democrats issue fresh ultimatum to Saudi Arabia over oil production". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2024.
  127. Betz, Bradford (ngày 13 tháng 10 năm 2022). "Saudi Arabia defends OPEC+ oil cut decision as 'purely economic'". Fox Business.
  128. Inayatullah, Saim Dušan (ngày 13 tháng 10 năm 2022). "Saudi Arabia: OPEC+ oil production cut 'purely economic'". Deutsche Welle.
  129. "Saudi Arabia pushed other OPEC nations into oil cut, White House claims". Reuters. ngày 14 tháng 10 năm 2022.
  130. Northam, Jackie (ngày 13 tháng 10 năm 2022). "The White House accuses Saudi Arabia of aiding Russia and coercing OPEC oil producers". NPR.
  131. Timperley, Jocelyn (ngày 27 tháng 7 năm 2023). "Is the decline of oil in sight?". BBC.
  132. "OPEC says IEA estimate of peak fossil fuel demand by 2030 not 'fact-based'". Reuters. ngày 14 tháng 9 năm 2023.
  133. "UAE accused of defying Opec oil cartel". The Telegraph. ngày 27 tháng 11 năm 2024.
  134. "OPEC+ agrees on a further oil output boost in October to regain market share". CNBC (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2025.
  135. Petroni, Giulia (ngày 7 tháng 9 năm 2025). "OPEC+ to Boost Oil Output Further Despite Supply Glut Concerns". The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2025.
  136. Lawler, Alex (ngày 11 tháng 3 năm 2026). "OPEC confirms big Saudi oil production hike ahead of Iran war, holds forecasts steady". Reuters. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2026.
  137. Astakhova, Olesya; Lawler, Alex; Ghaddar, Ahmad (ngày 1 tháng 3 năm 2026). "OPEC+ agrees modest oil output boost even as US war on Iran disrupts shipments". Reuters. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2026.
  138. Kimball, Spencer (ngày 7 tháng 3 năm 2026). "Kuwait cuts oil production as Strait of Hormuz closure disrupts global energy market". CNBC. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2026.
  139. Kimball, Spencer (ngày 13 tháng 4 năm 2026). "Middle East oil production plunges due to Iran war, OPEC data shows". CNBC. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2026.
  140. Kopack, Steve (ngày 28 tháng 4 năm 2026). "United Arab Emirates quits OPEC as Iran war raises Gulf tensions". NBC News. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2026.
  141. Nereim, Vivian; Naar, Ismaeel (ngày 28 tháng 4 năm 2026). "Amid Iran War and Tensions with Neighbors, U.A.E. Goes Its Own Way". The New York Times. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2026. It is an Emirati declaration of independence," said Kristin Diwan, a senior resident scholar at the Arab Gulf States Institute in Washington, a research organization. "They no longer feel beholden to institutions that don't align with their interests." [...] Yet it is undeniable that the Emirates — a major oil exporter and close U.S. ally — has increasingly been going its own way in the region. [...] For years, the Emirates had remained in OPEC "out of deference to Saudi Arabia," Ms. Diwan said. Tuesday's news makes it clear that "they will no longer defer to Saudi leadership.
  142. "Member Countries". OPEC.
  143. "Production of Crude Oil including Lease Condensate 2016" (CVS download). US Energy Information Administration. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2017.
  144. "Sudan awaiting decision on its OPEC membership application: minister". Sudan Tribune. ngày 22 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2015.
  145. "World Bank Open Data". World Bank Open Data. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  146. "Population 2022" (PDF).
  147. "Field Listing: Area". The World Factbook. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009.
  148. 1 2 Organization of the Petroleum Exporting Countries.
  149. Hayler, William B.; Keever, John M. (2003). American Merchant Seaman's Manual. Cornell Maritime Press. tr. 14.3. ISBN 978-0-87033-549-5.
  150. "International - U.S. Energy Information Administration (EIA)". www.eia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  151. "OPEC Share of World Crude Oil Reserves". OPEC. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2024. {{Chú thích web}}: |first= thiếu |last= (trợ giúp)
  152. "Congo Republic becomes OPEC oil cartel's newest member". U.K. (editorial). Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018.
  153. Cohen, Ariel. "OPEC Is Dead, Long Live OPEC+". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019. The deal represents the latest successful policy effort by the 24 member supercartel, informally referred to as the 'Vienna Group' or 'OPEC+,' to put their thumb on the scale of global oil markets. And it's a huge thumb indeed. [...] OPEC's 14 members control 35 percent of global oil supplies and 82 percent of proven reserves. With the addition of the 10 Non-OPEC nations, notable among them Russia, Mexico and Kazakhstan, those shares increase to 55 percent and 90 percent respectively. This affords OPEC+ a level of influence over the world economy never seen before.
  154. Prashanth Perumal J. (ngày 5 tháng 6 năm 2022). "Opec Plus The cartel and its allies that keep oil on the boil". The Hindu.
  155. "OPEC: OPEC makes history in Vienna". opec.org. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
  156. "OPEC: Fifty Years Regulating Oil Market Roller Coaster". Inter Press Service. ngày 14 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  157. "Member Countries". OPEC. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2020.
  158. "World Bank Open Data". World Bank Open Data. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  159. "Population 2022" (PDF).
  160. "Field Listing: Area". The World Factbook. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009.
  161. "International - U.S. Energy Information Administration (EIA)". www.eia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  162. Organization of the Petroleum Exporting Countries.
  163. "Angola leaves Opec oil cartel in output quota row". BBC News. ngày 22 tháng 12 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2023.
  164. Alkhalisi, Zahraa (ngày 3 tháng 12 năm 2018). "Qatar is pulling out of OPEC to focus on gas". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2018.
  165. "Why UAE's OPEC exit is a blow to Saudi Arabia". dw.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2026.
  166. "History of the Joint Organisations Data Initiative". JODI. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  167. "OPEC Basket Price". OPEC. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2021.
  168. "'Effective' OPEC Spare Capacity: Reality-Based Data" (PDF). IEA Energy (7): 13. tháng 11 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2016.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]