NATO
| Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương | |
|---|---|
| Organisation du traité de l'Atlantique Nord | |
Biểu trưng | |
Các nước thành viên NATO (xanh đậm) | |
| Tên viết tắt |
|
| Thành lập | 4 tháng 4 năm 1949 |
| Loại | Liên minh quân sự |
| Trụ sở chính | Bruxelles, Bỉ |
Thành viên | |
Ngôn ngữ chính | |
| Mark Rutte[3] | |
| Giuseppe Cavo Dragone | |
| Alexus Grynkewich | |
| Pierre Vandier | |
| Chi phí (ước tính 2025) | Tổng cộng: 1,588 nghìn tỷ đô la Mỹ Ngoại trừ Hoa Kỳ: 608 tỷ đô la Mỹ[4] |
| Website | nato |
Bài ca: "The NATO Hymn" Khẩu hiệu: "Animus in consulendo liber" | |
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)[a] là một liên minh quân sự gồm 32 nước thành viên (trong đó ba mươi nước nằm ở Châu Âu và hai nước nằm ở Bắc Mỹ), được thành lập vào năm 1949 theo Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. NATO là một hệ thống an ninh tập thể và răn đe. theo đó các thành viên độc lập của nó đồng ý bảo vệ lẫn nhau khỏi sự tấn công của bất kỳ quốc gia bên ngoài nào. Điều này được ghi trong Điều 5 của hiệp ước, trong đó nêu rõ rằng một cuộc tấn công vũ trang chống lại lãnh thổ của một thành viên sẽ được coi là một cuộc tấn công chống lại tất cả các thành viên.
Trong Chiến tranh Lạnh, mục đích chính của NATO là răn đe và chống lại Khối Warszawa gồm Liên Xô và các nước vệ tinh của Liên Xô. Sau khi Liên Xô giải thể, NATO thích nghi với tình hình mới. NATO thực hiện cuộc can thiệp quân sự đầu tiên trong Chiến tranh Bosnia với sự cho phép của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để thực thi vùng cấm bay và bảo vệ các khu vực an toàn của Liên Hợp Quốc. Năm 1999, NATO can thiệp vào Chiến tranh Kosovo để ném bom Nam Tư với mục tiêu tuyên bố là chấm dứt bạo lực và các hành động đàn áp của chính phủ Milošević. Sau sự kiện 11 tháng 9, Hoa Kỳ lần đầu tiên kích hoạt Điều 5, khiến NATO tham gia vào Chiến tranh Afghanistan như là một phần của Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF). Năm 2011, NATO can thiệp vào Nội chiến Libya với sự cho phép của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để thực thi vùng cấm bay và bảo vệ dân thường. NATO cũng tham gia huấn luyện quân đội Iraq và chống cướp biển.
Sau Chiến tranh Lạnh, NATO kết nạp 16 nước thành viên mới ở châu Âu. NATO công nhận Bosna và Hercegovina, Ukraina và Gruzia là những nước có tiềm năng gia nhập NATO. NATO từng có quan hệ hợp tác với Nga, nhưng trở nên đối đầu trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của Vladimir Putin. Putin coi sự mở rộng của NATO là một mối đe dọa và phản đối Ukraina gia nhập NATO. Sau khi Nga sáp nhập Krym vào năm 2014, NATO đình chỉ hợp tác với Nga và triển khai lực lượng cảnh giới ở phía đông. Sau khi Nga xâm lược Ukraina vào năm 2022, NATO tăng cường sườn phía đông và tiến hành viện trợ quân sự cho Ukraina, sau đó kết nạp Phần Lan và Thụy Điển. Kể từ cuộc xâm lược, Nga bị cáo buộc tiến hành một cuộc xung đột hỗn hợp chống lại NATO. Từ năm 2025, NATO đang trải qua cuộc khủng hoảng nội bộ do Hoa Kỳ yêu cầu sáp nhập Canada và lãnh thổ của Đan Mạch.
Các nước thành viên NATO đóng góp vào an ninh tập thể theo hai cách: chi ngân sách quốc phòng và đóng tiền vào ngân sách NATO. Mỗi nước thành viên cam kết chi ít nhất 5% tổng sản phẩm nội địa cho ngân sách quốc phòng.[5] Năm 2026, ngân sách NATO là khoảng 5 tỷ euro.[6] Tính đến năm 2026, Hoa Kỳ có ngân sách quốc phòng cao nhất, Na Uy có ngân sách quốc phòng bình quân đầu người cao nhất, Ba Lan và các nước Baltic có tỷ lệ ngân sách quốc phòng theo GDP cao nhất.[7] Tổng ngân sách quốc phòng của các nước thành viên NATO chiếm hơn một nửa tổng chi tiêu quân sự toàn cầu. Quân đội của các nước thành viên NATO gồm khoảng 3,5 triệu quân nhân và nhân viên. Trụ sở chính của NATO ở Bruxelles, Bỉ, trong khi trụ sở quân sự của NATO gần Mons, Bỉ.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Thế kỷ 20
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1941, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh ký Hiến chương Đại Tây Dương, vạch ra một khuôn khổ hợp tác quốc tế mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai.[8] Ngày 4 tháng 3 năm 1947, Pháp và Vương quốc Anh ký Hiệp ước Dunkirk, cam kết bảo vệ lẫn nhau nếu bị Đức tấn công. Tháng 3 năm 1948, Hiệp ước Bruxelles được ký kết, thành lập Tổ chức Hiệp ước Bruxelles, thường được gọi là Liên minh phương Tây, gồm Pháp, Vương quốc Anh và các nước Benelux.[9] Đồng thời, Hoa Kỳ bắt đầu các cuộc đàm phán về việc thành lập một liên minh quân sự lớn hơn, có thể bao gồm Bắc Mỹ. Từ năm 1947, Hoa Kỳ theo Học thuyết Truman trong chính sách đối ngoại, chủ trương thúc đẩy sự đoàn kết quốc tế chống lại các hành động của phe cộng sản, chẳng hạn như cuộc đảo chính Tiệp Khắc năm 1948. Ngày 4 tháng 4 năm 1949, các nước thành viên Liên minh phương Tây, Hoa Kỳ, Canada, Bồ Đào Nha, Ý, Na Uy, Đan Mạch và Iceland ký Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương.[10] Nhà ngoại giao người Canada Lester B. Pearson là một người soạn thảo chính của hiệp ước.[11][12][13]

Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương phần lớn không được thi hành cho đến khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra. Năm 1951, NATO thành lập Bộ Tư lệnh Tối cao Lực lượng Đồng minh châu Âu, phỏng theo cấu trúc và kế hoạch quân sự của Liên minh phương Tây,[14] bao gồm các thỏa thuận về tiêu chuẩn hóa thiết bị và các thỏa thuận về việc đóng quân của lực lượng quân sự nước ngoài tại các nước châu Âu. Năm 1952, NATO thành lập chức vụ tổng thư ký NATO như là người đứng đầu dân sự, tiến hành Tập trận Mainbrace, cuộc tập trận hàng hải lớn đầu tiên, và kết nạp Hy Lạp với Thổ Nhĩ Kỳ.[15][16] Sau Hội nghị Luân Đôn và Paris, Tây Đức được phép tái vũ trang và gia nhập NATO vào tháng 5 năm 1955, dẫn đến việc thành lập Khối Warszawa.[17]
Căng thẳng trong Chiến tranh Lạnh đạt đỉnh điểm khi Bức tường Berlin được xây dựng vào năm 1961. Vào thời điểm đó, Quân đội Hoa Kỳ có 400.000 binh sĩ đóng quân ở châu Âu.[18] Có những mối lo ngại về sức mạnh của mối quan hệ giữa các nước châu Âu và Hoa Kỳ, cùng với những lo ngại về độ tin cậy của hệ thống phòng thủ NATO trong trường hợp Liên Xô xâm lược. Những mối lo ngại này khiến Pháp xây dựng lực lượng răn đe hạt nhân độc lập và rút khỏi cấu trúc quân sự của NATO vào năm 1966.[19][20] Năm 1982, Tây Ban Nha gia nhập NATO sau khi dân chủ hóa.[21]

NATO đánh giá lại mục đích, bản chất, nhiệm vụ và trọng tâm tại châu Âu sau các cuộc Cách mạng năm 1989 ở châu Âu. Tháng 10 năm 1990, Cộng hòa Dân Chủ Đức sáp nhập vào Tây Đức và NATO. Tháng 11 năm 1990, NATO ký Hiệp ước Lực lượng Vũ trang thông thường ở châu Âu với Liên Xô, đồng ý cắt giảm lực lượng quân sự tại châu Âu. Hiệp ước được duy trì sau khi Khối Warszawa sụp đổ vào tháng 2 năm 1991 và Liên Xô giải thể vào tháng 12 năm 1991.[22] NATO bắt đầu việc giảm chi tiêu và trang thiết bị quân sự ở châu Âu. Hiệp ước cho phép các bên loại bỏ 52.000 các loại vũ khí thông thường trong 16 năm tiếp theo[23] và tạo điều kiện cho các nước thành viên NATO ở châu Âu giảm chi tiêu quân sự 28% từ năm 1990 đến năm 2015.[24] Năm 1990, một số lãnh đạo phương Tây cam kết miệng với Mikhail Gorbachyov rằng NATO sẽ không mở rộng thêm về phía đông, theo các bản ghi nhớ về các cuộc trò chuyện.[25][26][27][28] Trong một cuộc phỏng vấn sau đó, Gorbachyov khẳng định rằng các cuộc đàm phán không đề cập đến việc NATO mở rộng mà tập trung về việc NATO đóng quân tại lãnh thổ của Cộng hòa Dân chủ Đức cũ.[29]
Vào thập niên năm 1990, NATO mở rộng phạm vi hoạt động sang lĩnh vực chính trị và nhân đạo mà trước đây không phải là mối quan tâm của NATO.[30] Khi Nam Tư tan rã, NATO tiến hành các cuộc can thiệp quân sự đầu tiên ở Bosna và Hercegovina và ném bom Nam Tư vào năm 1999.[31]
Về mặt chính trị, NATO nỗ lực cải thiện mối quan hệ với các nước Trung và Đông Âu từng thuộc Khối phía Đông. NATO thiết lập các diễn đàn ngoại giao về hợp tác khu vực với các nước láng giềng, bao gồm sáng kiến Đối tác vì Hòa bình và Đối thoại Địa Trung Hải vào năm 1994, Hội đồng Đối tác châu Âu - Đại Tây Dương vào năm 1997 và Hội đồng Chung Thường trực NATO-Nga vào năm 1998. Tại hội nghị thượng đỉnh Washington năm 1999, NATO kết nạp Hungary, Ba Lan và Séc, đồng thời thiết lập cơ chế "Kế hoạch Hành động Thành viên" để xem xét kết nạp nước thành viên mới.[32]
Thế kỷ 21
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau sự kiện 11 tháng 9, Điều 5 Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được kích hoạt lần đầu tiên,[33] theo đó NATO triển khai Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế đến Afghanistan. Kể từ đó, NATO thực hiện những hoạt động khác, bao gồm huấn luyện quân đội Iraq và chống cướp biển.[34]
Sau khi Nicolas Sarkozy trúng cử tổng thống Pháp vào năm 2007, Pháp thay đổi mạnh mẽ lập trường quân sự. Ngày 4 tháng 4 năm 2009, Pháp trở lại tư cách thành viên đầy đủ, bao gồm việc tái gia nhập Cấu trúc Chỉ huy Quân sự NATO, những vẫn duy trì lực lượng răn đe hạt nhân độc lập.[20][35][36]

Tất cả các nước thành viên NATO đều lên án Nga sáp nhập Krym vào năm 2014[37] và kích hoạt Điều 4 để tham vấn giữa các nước thành viên NATO. Những lần kích hoạt Điều 4 trước đó bao gồm Chiến tranh Iraq và Nội chiến Syria.[38] Tại hội nghị thượng đỉnh Wales năm 2014, các nước thành viên NATO chính thức cam kết chi ít nhất 2% GDP cho ngân sách quốc phòng trước năm 2024, trước đây chỉ là một hướng dẫn không chính thức.[39]

Tại hội nghị thượng đỉnh Warszawa năm 2016, NATO nhất trí thành lập Lực lượng Hiện diện Tiền tuyến Tăng cường NATO, triển khai bốn nhóm tác chiến đa quốc gia quy mô tiểu đoàn tại Estonia, Latvia, Litva và Ba Lan.[40] Trước và sau khi Nga xâm lược Ukraina, một số nước NATO gửi quân bộ, tàu chiến và máy bay chiến đấu để tăng cường sườn phía đông của NATO, và nhiều nước lại kích hoạt Điều 4.[41][42][43] Tháng 3 năm 2022, NATO tổ chức hội nghị thượng đỉnh bất thường tại Bruxelles, có sự tham gia của các lãnh đạo G7 và Liên minh châu Âu.[44] Các nước thành viên NATO nhất trí bổ sung bốn nhóm tác chiến tại Bulgaria, Hungary, Romania và Slovakia[40] và lần đầu tiên triển khai các đơn vị của Lực lượng Phản ứng NATO.[45]
Tính đến tháng 6 năm 2022, NATO triển khai 40.000 binh sĩ dọc theo sườn phía đông dài 2.500 kilômét (1.600 mi) để răn đe Nga. Hơn một nửa số binh sĩ được triển khai ở Bulgaria, Romania, Hungary, Slovakia và Ba Lan. Năm nước này tập hợp một lực lượng ngoài NATO đáng kể gồm 259.000 binh sĩ. Nhằm tăng cường Không quân Bulgaria, Tây Ban Nha gửi máy bay Eurofighter Typhoon, Hà Lan gửi tám máy bay F-35, và Pháp, Hoa Kỳ cam kết gửi các máy bay tấn công bổ sung.[46] Năm 2025, Đức bố trí một lữ đoàn thiết giáp ở Litva.[47]
Kể từ khi Donald Trump tái đắc cử tổng thống vào năm 2024, NATO đối mặt với tình trạng chia rẽ nội bộ chưa từng có giữa Hoa Kỳ và đa số các nước thành viên NATO khác. Hoa Kỳ liên tục đe dọa sáp nhập Canada và chiếm Greenland từ Đan Mạch, trong khi quan hệ Hoa Kỳ - Liên minh châu Âu và quan hệ Canada - Hoa Kỳ xấu đi.[48][49] Tháng 3 năm 2026, Trump chỉ trích các nước thành viên NATO là hèn nhát vì từ chối hỗ trợ mở lại Eo biển Hormuz trong Chiến tranh Iran 2026 và mô tả NATO là một "bạch hổ giấy", không thể thiếu Hoa Kỳ.[50][51][52]
Hoạt động quân sự
[sửa | sửa mã nguồn]Hoạt động đầu tiên
[sửa | sửa mã nguồn]NATO không tiến hành bất kỳ hoạt động quân sự nào trong Chiến tranh Lạnh. Sau Chiến tranh Lạnh, NATO tiến hành Chiến dịch Anchor Guard vào năm 1990 và Ace Guard vào năm 1991 sau khi Iraq xâm lược Kuwait. NATO cử máy bay cảnh báo sớm đến giám sát khu vực đông nam Thổ Nhĩ Kỳ và sau đó triển khai một lực lượng phản ứng nhanh đến khu vực này.[53]
Can thiệp vào Bosnia và Herzegovina
[sửa | sửa mã nguồn]Chiến tranh Bosnia nổ ra vào năm 1992 do Nam Tư tan rã. Ngày 9 tháng 10 năm 1992, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết 816, cho phép NATO thực thi vùng cấm bay đã được tuyên bố trước đó dưới sự chỉ đạo của Lực lượng Bảo vệ Liên Hợp Quốc trên khu vực trung tâm Bosnia và Herzegovina. NATO bắt đầu thực thi vùng cấm bay vào ngày 12 tháng 4 năm 1993 với Chiến dịch Deny Flight. Từ tháng 6 năm 1993 đến tháng 10 năm 1996, NATO tiến hành Chiến dịch Sharp Guard, cấm vận vũ khí trên biển Cộng hòa Liên bang Nam Tư, đồng thời thi hành các lệnh trừng phạt kinh tế. Ngày 28 tháng 2 năm 1994, NATO bắn hạ bốn máy bay của người Serbia Bosnia vi phạm vùng cấm bay, hành động thời chiến đầu tiên của NATO.[54]
Ngày 10 và 11 tháng 4 năm 1994, Lực lượng Bảo vệ Liên Hợp Quốc yêu cầu không kích để bảo vệ khu vực an toàn Goražde. NATO chỉ đạo hai máy bay F-16 của Hoa Kỳ ném bom một tiền đồn chỉ huy quân sự của người Serbia Bosnia gần Goražde.[55] Để trả đũa, người Serbia bắt giữ 150 nhân viên Liên Hợp Quốc làm con tin vào ngày 14 tháng 4.[56][57] Ngày 16 tháng 4, lực lượng Serbia bắn rơi một máy bay Sea Harrier của Anh tại Goražde.[58]
Sau vụ thảm sát Srebrenica, NATO tiến hành Chiến dịch Deliberate Force vào tháng 8 năm 1995, ném bom Quân đội Cộng hòa Srpska trong hai tuần.[59] Các cuộc không kích tiếp theo của NATO giúp chấm dứt Chiến tranh Nam Tư, dẫn đến Hiệp ước Dayton vào tháng 11 năm 1995.[59] Theo hiệp ước, NATO triển khai Lực lượng Thực thi, một lực lượng gìn giữ hòa bình gồm gần 60.000 binh sĩ NATO, do Liên Hợp Quốc ủy nhiệm, với mật danh Chiến dịch Joint Endeavor. Lực lượng của những nước ngoài NATO tham gia Lực lượng Thực thi. Từ tháng 12 năm 1996 đến tháng 12 năm 2004, Lực lượng Ổn định tại Bosna và Hercegovina kế thừa Lực lượng Thực thi, ban đầu gồm 32.000 binh sĩ. Lực lượng Liên minh châu Âu sau đó tiếp quản các hoạt động gìn giữ hòa bình từ Lực lượng Ổn định.[60] Phỏng theo các nước thành viên, NATO bắt đầu trao tặng Huân chương NATO cho các chiến dịch tại Nam Tư.[61]
Can thiệp vào Kosovo
[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 9 năm 1998, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết 1199, yêu cầu ngừng bắn ngay lập tức ở Kosovo nhằm ngăn chặn lực lượng Serbia của Slobodan Milošević đàn áp Quân đội Giải phóng Kosovo và dân thường người Albania.[62]
Sau khi các cuộc đàm phán do Đặc phái viên Hoa Kỳ Richard Holbrooke dẫn dắt đổ vỡ vào ngày 23 tháng 3 năm 1999, ông chuyển vấn đề này cho NATO.[63] Ngày 24 tháng 3 năm 1999, NATO tiến hành Chiến dịch Allied Force, ném bom quân đội Cộng hòa Liên bang Nam Tư trong 78 ngày.[64] NATO cũng triển khai Lực lượng Cơ động châu Âu đến Albania để cung cấp viện trợ nhân đạo cho những người tị nạn từ Kosovo.[65]
Chiến dịch ném bom bị chỉ trích vì gây thương vong cho dân thường, bao gồm vụ ném bom đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade và tính hợp pháp. Hoa Kỳ, Anh và hầu hết các nước NATO khác cho rằng NATO không cần sự cho phép của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để tiến hành các cuộc tấn công, chẳng hạn như chiến dịch tại Serbia vào năm 1999, trong khi Pháp cho rằng NATO cần sự chấp thuận của Liên Hợp Quốc.[66] Tại hội nghị thượng đỉnh Washington vào tháng 4 năm 1999, NATO thông qua Khái niệm Chiến lược Liên minh, nhấn mạnh việc ngăn ngừa xung đột và quản lý khủng hoảng trong bối cảnh hậu Chiến tranh Lạnh.[67]
Ngày 3 tháng 6 năm 1999, Milošević chấp nhận Hiệp định Kumanovo, chấm dứt Chiến tranh Kosovo. Ngày 11 tháng 6, Milošević chấp nhận Nghị quyết 1244 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, theo đó NATO thành lập Lực lượng Kosovo như một lực lượng gìn giữ hòa bình. Những nhiệm vụ của Lực lượng Kosov bao gồm bảo vệ các phái bộ nhân đạo và ngăn chặn bạo lực.[68] Tháng 8 năm 2001, NATO tiến hành Chiến dịch Essential Harvest nhằm giải giáp các lực lượng dân quân người Albania ở Macedonia.[69] Tính đến năm 2023[cập nhật], khoảng 4.500 binh sĩ Lực lượng Kosovo thuộc 27 nước tiếp tục hoạt động trong khu vực.[70]
Chiến tranh Afghanistan
[sửa | sửa mã nguồn]Sau sự kiện 11 tháng 9, Hoa Kỳ lần đầu tiên kích hoạt Điều 5 Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương.[71] Ngày 4 tháng 10 năm 2001, NATO xác nhận yêu cầu của Hoa Kỳ.[72] NATO tiến hành tám hành động chính thức, bao gồm Chiến dịch Eagle Assist. Ngày 4 tháng 10 năm 2001, NATO bắt đầu Chiến dịch Active Endeavour, một chiến dịch hải quân ở Địa Trung Hải nhằm ngăn chặn những phần tử khủng bố, vũ khí hủy diệt hàng loạt di chuyển và tăng cường an ninh hàng hải.[53]
Ngày 16 tháng 4 năm 2003, NATO nhất trí đồng ý tiếp quản Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF) theo yêu cầu của Đức và Hà Lan, hai nước dẫn đầu Lực lượng vào thời điểm ký kết thỏa thuận. NATO chính thức tiếp quản Lực lượng vào ngày 11 tháng 8, lần đầu tiên NATO đảm nhận một nhiệm vụ bên ngoài khu vực Bắc Đại Tây Dương.[73]

Ban đầu, ISAF được giao nhiệm vụ bảo vệ Kabul và các khu vực xung quanh khỏi Taliban, al-Qaeda và các quân phiệt, để tạo điều kiện cho việc thành lập Nhà nước Hồi giáo Chuyển tiếp Afghanistan do Hamid Karzai đứng đầu. Tháng 10 năm 2003, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cho phép ISAF mở rộng phạm vi hoạt động trên cả nước.[74]
Ngày 31 tháng 7 năm 2006, ISAF tiếp quản các hoạt động quân sự ở miền nam Afghanistan từ liên minh chống khủng bố do Hoa Kỳ dẫn đầu.[75] Do cường độ giao tranh ở miền nam, vào năm 2011, Pháp cho phép chuyển một phi đội Mirage 2000 đến Kandahar để tăng cường ISAF.[76] Tại hội nghị thượng đỉnh Chicago năm 2012, NATO thông qua một kế hoạch chấm dứt chiến tranh Afghanistan và rút quân trước tháng 12 năm 2014.[77] Tháng 12 năm 2014, ISAF bị giải thể và được Phái bộ Resolute Support thay thế.[78]
Ngày 14 tháng 4 năm 2021, Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg cho biết NATO đồng ý bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan vào ngày 1 tháng 5.[79] Ngay sau khi NATO bắt đầu rút quân, Taliban phát động một cuộc tấn công, nhanh chóng tiến công trong khi Lực lượng Vũ trang Afghanistan tan rã.[80] Đến ngày 15 tháng 8 năm 2021, Taliban kiểm soát phần lớn Afghanistan và bao vây Kabul.[81] Một số nước thành viên NATO mô tả việc rút quân hỗn loạn khỏi Afghanistan và sự sụp đổ của chính phủ Afghanistan là thảm họa lớn nhất trong lịch sử NATO.[82][83]
Phái bộ huấn luyện Iraq
[sửa | sửa mã nguồn]
Tháng 8 năm 2004, NATO thành lập Phái bộ Huấn luyện NATO – Iraq (NTM-I), phối hợp với Lực lượng Đa quốc gia - Iraq nhằm hỗ trợ lực lượng an ninh Iraq. [84] NTM-I được thành lập theo yêu cầu của Chính phủ Lâm thời Iraq căn cứ Nghị quyết 1546 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Mục tiêu của NTM-I là hỗ trợ phát triển các cấu trúc và thể chế huấn luyện của lực lượng an ninh Iraq để xây dựng một năng lực hiệu quả và bền vững đáp ứng nhu cầu của Iraq. NTM-I nằm dưới sự kiểm soát chính trị của Hội đồng Bắc Đại Tây Dương. Phó Tư lệnh Cố vấn và Huấn luyện Lực lượng Hoa Kỳ - Iraq kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh NTM-I. NTM-I kết thúc hoạt động vào ngày 17 tháng 12 năm 2011.[85]
Thổ Nhĩ Kỳ lần đầu tiên yêu cầu tham vấn theo Điều 4 vào năm 2003 khi Chiến tranh Iraq bắt đầu. Năm 2012, Thổ Nhĩ Kỳ kích hoạt Điều 4 hai lần sau khi Lục quân Syria bắn rơi một máy bay trinh sát F-4 của Thổ Nhĩ Kỳ và sau khi Syria bắn một quả đạn cối vào Thổ Nhĩ Kỳ.[86] Năm 2015, Thổ Nhĩ Kỳ lại kích hoạt Điều 4 sau những lời đe dọa của Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant đối với lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ.[87]
Chống cướp biển tại Vịnh Aden
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 2008, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc kêu gọi các nước thành viên bảo vệ các tàu thuộc Chiến dịch Allied Provider đang phân phối viện trợ như một phần của phái bộ Chương trình Lương thực Thế giới tại Somalia.[88]
Ngày 17 tháng 8 năm 2009, NATO và những nước khác, bao gồm Nga, Trung Quốc và Hàn Quốc,[89][90] tiến hành Chiến dịch Ocean Shield nhằm ngăn chặn và làm gián đoạn các cuộc tấn công của hải tặc Somalia, bảo vệ tàu thuyền và tăng cường an ninh chung trong khu vực.[91] NATO triển khai tàu chiến để bảo vệ giao thông hàng hải ở Vịnh Aden và Ấn Độ Dương, đồng thời tăng cường hải quân, lực lượng tuần duyên của các nước trong khu vực.[92]
Can thiệp vào Libya
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong Nội chiến Libya, bạo lực giữa những người biểu tình và chính phủ Libya leo thang. Ngày 17 tháng 3 năm 2011, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết 1973, kêu gọi ngừng bắn và cho phép can thiệp quân sự để bảo vệ dân thường.[93] Ngày 19 tháng 3, một liên minh do NATO dẫn đầu tiến hành can thiệp quân sự vào Libya, khởi đầu với Chiến dịch Harmattan của Không quân Pháp.[94]
Ngày 20 tháng 3 năm 2011, NATO tiến hành Chiến dịch Unified Protector nhằm thực thi lệnh cấm vận vũ khí đối với Libya, triển khai các tàu chiến từ Nhóm Hàng hải Thường trực 1, Nhóm Rà phá thủy lôi Thường trực 1[95] và những tàu, tàu ngầm khác của các nước thành viên NATO.[96]
Ngày 24 tháng 3, NATO đồng ý tiếp quản quyền vùng cấm bay từ liên minh, nhưng lực lượng của liên minh vẫn giữ quyền chỉ huy các đơn vị mặt đất nhắm mục tiêu.[97][98] NATO bắt đầu chính thức thực thi nghị quyết của Liên Hợp Quốc vào ngày 27 tháng 3 năm 2011 với sự hỗ trợ từ Qatar và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.[99] Đến tháng 6, NATO bắt đầu xuất hiện chia rẽ nội bộ khi chỉ có 8 trong số 28 nước thành viên tham gia vào các hoạt động chiến đấu.[100] Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates kêu gọi các nước như Ba Lan, Tây Ban Nha, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Đức đóng góp nhiều hơn, nhưng những nước này phản bác rằng NATO đang vượt quá nhiệm vụ tại Libya.[101] Trong bài phát biểu chính sách cuối cùng tại Bruxelles vào ngày 10 tháng 6, Gates tiếp tục chỉ trích các nước thành viên, cho rằng hành động của họ có thể khiến NATO sụp đổ. Bộ Ngoại giao Đức phản bác rằng Đức đã có đóng góp đáng kể cho NATO và các hoạt động do NATO dẫn đầu và được Tổng thống Obama đánh giá cao.
Ngày 10 tháng 6, Na Uy tuyên bố sẽ bắt đầu giảm dần đóng góp và rút quân hoàn toàn trước ngày 1 tháng 8. Đầu tuần đó, có thông tin cho rằng máy bay chiến đấu của Đan Mạch sắp hết bom.[102] Ngày 13 tháng 6, người đứng đầu Hải quân Hoàng gia Anh cho biết các hoạt động của Anh tại Libya là không bền vững.[103] Đến tháng 10 năm 2011, NATO đã thực hiện khoảng 9.500 phi vụ tấn công nhằm vào các mục tiêu ủng hộ Gaddafi.[104][105] Tháng 5 năm 2012, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền công bố báo cáo xác định ít nhất 72 dân thường thiệt mạng trong chiến dịch.[106]
Sau một cuộc đảo chính hụt vào tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Libya Ali Zeidan yêu cầu NATO cung cấp cố vấn kỹ thuật và huấn luyện viên để hỗ trợ giải quyết các vấn đề an ninh. NATO thành lập một nhóm cố vấn nhỏ có trụ sở tại Bruxelles để giúp tăng cường lực lượng an ninh Libya.[107]
Biên giới Thổ Nhĩ Kỳ
[sửa | sửa mã nguồn]
Thổ Nhĩ Kỳ nhiều lần đe dọa kích hoạt Điều 5 và triệu tập bốn trong số bảy cuộc tham vấn chính thức theo Điều 4 do ảnh hưởng của Nội chiến Syria. Tháng 4 năm 2012, Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan cân nhắc kích hoạt Điều 5 do đụng độ ở biên giới với Syria.[108][109]
Sau vụ Syria bắn hạ một máy bay quân sự Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 6 năm 2012 và việc lực lượng Syria nã pháo vào các thành phố Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 10 năm 2012,[110] Thổ Nhĩ Kỳ triệu tập hai cuộc tham vấn theo Điều 4. NATO tiến hành Chiến dịch Active Fence để bảo vệ phía nam Thổ Nhĩ Kỳ. Xung đột biên giới tiếp tục leo thang. Thổ Nhĩ Kỳ cáo buộc Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant thực hiện vụ đánh bom Suruç năm 2015. Do những vấn đề an ninh khác ở biên giới phía nam,[111][112][113][114] Thổ Nhĩ Kỳ triệu tập một hội nghị khẩn cấp NATO vào năm 2015. Cuộc tham vấn gần đây nhất diễn ra vào tháng 2 năm 2020 do các cuộc không kích lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ tại Balyun[115] trong cuộc tấn công Tây Bắc Syria.[116]
Sườn phía đông
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 9 năm 2025, NATO tiến hành Chiến dịch Eastern Sentry để đáp trả sự xâm nhập của máy bay không người lái Nga vào Ba Lan. Chiến dịch này nhằm tăng cường sườn phía đông của NATO và ngăn chặn các vụ xâm nhập tiếp theo.
Thành viên
[sửa | sửa mã nguồn]32 nước thành viên NATO gồm có:

NATO có 30 nước thành viên châu Âu và 2 nước thành viên Bắc Mỹ. Điều 6 Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương định nghĩa "khu vực trách nhiệm" của NATO (lãnh thổ được bảo vệ theo Điều 5) là lãnh thổ các nước thành viên ở châu Âu, Bắc Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ và các đảo ở Bắc Đại Tây Dương về phía bắc Chí tuyến Bắc. Tàu thuyền, máy bay, các lực lượng khác ở Bắc Đại Tây Dương về phía bắc Chí tuyến Bắc và Địa Trung Hải cũng được bảo vệ theo Điều 5.[117] Trong các cuộc đàm phán hiệp ước, Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng các thuộc địa như Congo thuộc Bỉ không thuộc phạm vi bảo vệ của hiệp ước.[118][119] Một ngoại lệ là Algérie thuộc Pháp cho đến khi Algérie giành độc lập vào năm 1962.[120] Trong số 32 nước thành viên, 12 là các nước thành viên sáng lập, 20 nước thành viên còn lại gia nhập trong mười vòng mở rộng.[121]
Quy chế đặc biệt
[sửa | sửa mã nguồn]Đan Mạch, Iceland và Na Uy giới hạn sự tham gia NATO trong ba lĩnh vực: không cho đặt căn cứ thường trực trong thời bình, không bố trí đầu đạn hạt nhân và không tổ chức hoạt động quân sự của NATO (trừ khi được yêu cầu) trên lãnh thổ. Tuy nhiên, Đan Mạch cho phép Lực lượng Không gian Hoa Kỳ duy trì Căn cứ Không gian Pituffik ở Greenland.[122]
Từ giữa thập niên 1960 đến giữa thập niên 1990, Pháp thực hiện chiến lược quân sự độc lập với NATO.[123] Năm 2009, Pháp tham gia lại bộ tư lệnh quân sự tích hợp và Ủy ban Kế hoạch Quốc phòng. Pháp vẫn là nước thành viên duy nhất không tham gia Nhóm Kế hoạch Hạt nhân và không cam kết cung cấp tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân cho NATO, khác với Hoa Kỳ và Anh.[20][35]
Mở rộng
[sửa | sửa mã nguồn]
12 nước thành viên sáng lập NATO là Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ.[124]
Trong Chiến tranh Lạnh, NATO kết nạp Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ (1952), Tây Đức (1955) và Tây Ban Nha (1982). Sau khi Liên Xô giải thể, nhiều nước thuộc Khối Warszawa cũ và một số nước hậu Xô Viết gia nhập NATO. Cộng hòa Dân chủ Đức sáp nhập vào Tây Đức trong tái thống nhất nước Đức. Tại hội nghị thượng đỉnh Washington năm 1999, NATO kết nạp Hungary, Ba Lan và Séc, đồng thời thiết lập cơ chế Kế hoạch Hành động Thành viên để xem xét kết nạp nước thành viên mới. Bulgaria, Estonia, Latvia, Litva, Romania, Slovakia và Slovenia gia nhập NATO vào năm 2004, Albania và Croatia gia nhập NATO vào năm 2009, Montenegro gia nhập NATO vào năm 2017 và Bắc Macedonia gia nhập NATO vào năm 2020.[125] Sau khi Nga xâm lược Ukraina vào năm 2022, Phần Lan gia nhập NATO vào năm 2023 và Thụy Điển gia nhập NATO vào 2024.[126][127]
Năm 2002, NATO ban hành Kế hoạch Hành động NATO-Ukraina nhằm tăng cường quan hệ NATO-Ukraina.[128] Năm 2005, Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố sẽ tôn trọng việc Ukraina gia nhập NATO vì "đó là quyền chủ quyền của họ để quyết định chính sách quốc phòng, và điều này sẽ không làm xấu đi mối quan hệ" giữa Nga và Ukraina. Tuy nhiên, kể từ bài phát biểu tại Munich năm 2007, Putin phản đối mạnh mẽ việc NATO mở rộng. Năm 2010, Tổng thống Ukraina Viktor Yanukovych ký ban hành luật quy định Ukraina là một nước không liên kết và không có nguyện vọng gia nhập NATO.[129] Trong cuộc Cách mạng Ukraina năm 2014, Nga chiếm đóng Krym và hỗ trợ lực lượng thân Nga ở miền đông Ukraine. Tháng 12 năm 2014, Ukraina từ bỏ lập trường không liên kết.[130] Năm 2019, chính phủ Ukraina bổ sung mục tiêu gia nhập NATO vào Hiến pháp.[131][132] Tại hội nghị thượng đỉnh Bruxelles năm 2021, NATO khẳng định rằng Ukraine sẽ gia nhập NATO và ủng hộ quyền tự quyết của Ukraina.[133] Cuối năm 2021, Nga lại có một đợt tăng cường quân sự lớn khác ở biên giới Ukraina. Putin cảnh báo rằng việc Ukraina gia nhập NATO và triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa hoặc tên lửa tầm xa sẽ vượt lằn ranh đỏ. Tuy nhiên, Ukraina còn rất xa so với việc trở thành thành viên và không có kế hoạch triển khai tên lửa nào như vậy.[134][135][136] Bộ Ngoại giao Nga soạn thảo một hiệp ước cấm Ukraina hoặc nước hậu Xô viết khác gia nhập NATO.[137] Tổng Thư ký NATO Stoltenberg tuyên bố rằng Nga không có quyền phủ quyết Ukraina gia nhập NATO hay thiết lập phạm vi ảnh hưởng để kiểm soát các nước láng giềng.[138][139] NATO đề nghị cải thiện liên lạc với Nga và thảo luận về việc bố trí tên lửa, tập trận nếu Nga rút quân khỏi biên giới Ukraina.[140] Sau khi Nga xâm lược Ukraina vào năm 2022 và sáp nhập miền Đông và miền Nam Ukraina, Ukraina nộp đơn xin gia nhập NATO vào tháng 9 năm 2022.[141]
Tại hội nghị thượng đỉnh Bucharest năm 2008, NATO hứa hẹn "tư cách thành viên trong tương lai" đối với Gruzia.[142] Tuy nhiên, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tuyên bố vào năm 2014 rằng NATO hiện không có kế hoạch kết nạp Gruzia.[143]

Nga cho rằng sự mở rộng của NATO vi phạm những thỏa thuận không chính thức giữa Liên Xô và các nước châu Âu, Hoa Kỳ về tái thống nhất nước Đức.[144] Một cuộc thăm dò của Trung tâm Levada vào năm 2016 cho thấy 68% dân số Nga cho rằng việc NATO triển khai quân đội tại các nước Baltic và Ba Lan là một mối đe dọa đối với Nga.[145] Trái lại, một cuộc khảo sát vào năm 2017 của Trung tâm Nghiên cứu Pew cho thấy 65% dân số Ba Lan coi Nga là "mối đe dọa lớn" và trung bình 31% dân số các nước NATO đồng quan điểm.[146][Cần cập nhật] Một cuộc khảo sát vào năm 2018 cho thấy 67% dân số Ba Lan ủng hộ Hoa Kỳ đóng quân tại Ba Lan.[147][Cần cập nhật] Trong số các nước Đông Âu ngoài Cộng đồng các Quốc gia Độc lập do Gallup khảo sát vào năm 2016, tất cả đều coi NATO là một liên minh bảo vệ hơn là một mối đe dọa, ngoại trừ Serbia và Montenegro.[148][Cần cập nhật]
Chi tiêu quốc phòng NATO
[sửa | sửa mã nguồn]Đóng góp trực tiếp
[sửa | sửa mã nguồn]Các nước thành viên đóng góp vào ba quỹ chung của NATO (ngân sách dân sự, ngân sách quân sự và chương trình đầu tư an ninh). Công thức tính mức đóng góp dựa trên thu nhập quốc dân bình quân đầu người và những yếu tố khác.[149][150] Trong giai đoạn 2023–2024, Hoa Kỳ và Đức là hai nước đóng góp lớn nhất vào ngân sách NATO, mỗi nước chiếm 16,2%.[150][151]
Đóng góp gián tiếp
[sửa | sửa mã nguồn]Các nước thành viên có quân đội riêng.[150][151] Mỗi nước thành viên cung cấp quân lính và trang thiết bị vào các hoạt động, phái bộ của NATO trên cơ sở tự nguyện.[151] Từ năm 2006, mỗi nước được yêu cầu phải chi ít nhất 2% tổng sản phẩm quốc nội cho ngân sách quốc phòng. Năm 2014, NATO cho biết những nước không đạt được mục tiêu này sẽ "hướng tới mục tiêu 2% trong vòng một thập kỷ".[150][152] Tháng 7 năm 2022, NATO ước tính rằng 11 thành viên sẽ đạt được mục tiêu vào năm 2023.[152] Ngày 14 tháng 2 năm 2024, Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg cho biết 18 nước thành viên sẽ đạt được mục tiêu 2% vào năm 2024.[153] Ngày 17 tháng 6 năm 2024, Stoltenberg thông báo rằng 23 trong số 32 nước thành viên NATO đáp ứng mục tiêu chi tiêu quốc phòng là 2% GDP, số lượng thành viên cao nhất.[154][155] NATO cho biết thêm rằng ngân sách quốc phòng của các nước thành viên châu Âu và Canada tăng 18% chỉ trong năm qua.[154][155] Tính đến năm 2024, những nước sau đây chưa đạt được mục tiêu 2%: Tây Ban Nha (1,28%), Luxembourg (1,29%), Slovenia (1,29%), Bỉ (1,3%), Canada (1,37%), Ý (1,49%), Bồ Đào Nha (1,55%) và Croatia (1,81%).[156]
Quan hệ đối tác
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1994, NATO thành lập chương trình Đối tác vì Hòa bình (PfP) để xây dựng mối quan hệ giữa mỗi nước đối tác và NATO: mỗi nước tự quyết định mức độ tham gia.[158] Các thành viên bao gồm tất cả các thành viên và cựu thành viên Cộng đồng các Quốc gia Độc lập.[159] Hội đồng Đối tác châu Âu - Đại Tây Dương là một diễn đàn phối hợp, tham vấn và đối thoại thường xuyên gồm 50 nước thành viên, được thành lập vào ngày 29 tháng 5 năm 1997.[160] Chương trình PfP được coi là cánh tay hoạt động của Hội đồng Đối tác châu Âu - Đại Tây Dương.[158] Afghanistan từng được mời tham gia vào một số hoạt động của PfP.[161]
Ngày 16 tháng 12 năm 2002, NATO ký thỏa thuận Berlin Plus với Liên minh châu Âu, cho phép Liên minh châu Âu sử dụng khí tài của NATO trong một cuộc khủng hoảng quốc tế nếu NATO từ chối hành động.[162] Ví dụ: Điều 42(7) Hiệp ước Lisboa năm 1982 quy định "nếu một nước thành viên bị xâm lược vũ trang trên lãnh thổ của mình thì những nước thành viên khác có nghĩa vụ viện trợ và hỗ trợ nước đó bằng mọi phương tiện trong khả năng của họ". Hiệp ước này áp dụng trên toàn cầu cho các lãnh thổ được chỉ định, trong khi NATO chỉ hoạt động ở phía bắc Chí tuyến Bắc.[163][164]
Ngoài ra, NATO hợp tác và thảo luận với nhiều nước ngoài NATO. Năm 1994, NATO thành lập Đối thoại Địa Trung Hải để phối hợp với Israel và các nước Bắc Phi. Năm 2004, NATO thành lập Sáng kiến Hợp tác Istanbul với các nước Tây Á, tương tự Đối thoại Địa Trung Hải.[165] Qatar và NATO ký một thỏa thuận an ninh chung vào tháng 1 năm 2018.[166] Tháng 6 năm 2018, Qatar bày tỏ nguyện vọng gia nhập NATO,[167] nhưng bị NATO bác bỏ vì Điều 10 Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương quy định chỉ có nước châu Âu mới có thể gia nhập NATO.[168]
Năm 1990, NATO bắt đầu đối thoại chính trị với Nhật Bản. Kể từ đó, NATO dần tăng cường liên hệ với những nước không tham gia những cơ chế hợp tác của NATO.[169] Năm 1998, NATO thiết lập một bộ hướng dẫn chung về tăng cường hợp tác một cách không thể chế hóa chính thức với những nước khác. Năm 2000, NATO chỉ định những nước này là "quốc gia liên hệ". Năm 2012, NATO thiết lập quy chế "đối tác toàn cầu" và mở rộng phạm vi hoạt động sang những lĩnh vực như chống cướp biển và trao đổi công nghệ.[170][171] Úc và New Zealand, đều là đối tác toàn cầu NATO,[172] cũng là thành viên AUSCANNZUKUS. Các thành viên NATO cũng ký các thỏa thuận khu vực hoặc song phương tương tự với các nước liên hệ. Năm 2019, Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg tuyên bố rằng NATO cần tăng cường hợp tác với Úc, New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc để đối phó với Trung Quốc.[173] Colombia là đối tác toàn cầu mới nhất của NATO và là đối tác toàn cầu duy nhất ở Nam Mỹ.[174][175]
Cơ cấu tổ chức
[sửa | sửa mã nguồn]
Cấu trúc dân sự của NATO bao gồm:
- Hội đồng Bắc Đại Tây Dương là cơ quan quản trị và quyết định của NATO, bao gồm các đại diện thường trực hoặc các quan chức cấp cao (bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng; nguyên thủ quốc gia hoặc người đứng đầu chính phủ) của các nước thành viên. Hội đồng họp mỗi tuần ít nhất một phiên. Tổng thư ký chủ trì các phiên họp. Hội đồng quyết định theo sự đồng thuận[176] thay vì biểu quyết. Mỗi nước tham gia Hội đồng hoặc ủy ban trực thuộc Hội đồng đều giữ nguyên chủ quyền và trách nhiệm hoàn toàn đối với các quyết định của mình.[177]
- Hội đồng Nghị viện NATO là cơ quan đặt ra các mục tiêu chiến lược của NATO, mỗi năm họp hai phiên. Hội đồng Nghị viện gồm các nghị sĩ từ các nước thành viên NATO và 13 thành viên liên kết. Hội đồng tương tác trực tiếp với các nghị viện của các nước thành viên. Về mặt chính thức, Hội đồng là một cấu trúc khác với NATO và có mục đích tập hợp các đại biểu của các nước NATO để thảo luận về các chính sách an ninh tại Hội đồng NATO.[178]
- Trụ sở NATO ở Thành phố Bruxelles.[179] Biên chế trụ sở NATO gồm có các phái đoàn của các nước thành viên, bao gồm các văn phòng liên lạc dân sự, quân sự và các sĩ quan, phái đoàn ngoại giao và các nhà ngoại giao của các nước, cũng như Biên chế Quốc tế và Biên chế Quân sự Quốc tế gồm các quân nhân tại ngũ của quân đội các nước thành viên.[180] Hiệp hội Hiệp ước Đại Tây Dương gồm các tổ chức phi chính phủ của các nước thành viên với mục tiêu hỗ trợ NATO.[181][182]
Cấu trúc quân sự của NATO bao gồm:
- Ủy ban Quân sự là cơ quan tư vấn cho Hội đồng Bắc Đại Tây Dương về chính sách, chiến lược quân sự, bao gồm các tham mưu trưởng quốc phòng của các nước thành viên, sĩ quan quân sự cao cấp nhất trong quân đội mỗi nước. Các tham mưu trưởng quốc phòng thường bổ nhiệm đại diện quân sự làm đại diện thường trực trong Ủy ban Quân sự, thường là các sĩ quan cấp tướng hai hoặc ba sao. Giống như Hội đồng Bắc Đại Tây Dương, Ủy ban Quân sự đôi khi họp ở cấp cao hơn, cụ thể là ở cấp tham mưu trưởng quốc phòng. Chủ tịch Ủy ban Quân sự chỉ đạo các hoạt động quân sự của NATO.[183] Trước năm 2008, Ủy ban Quân sự loại trừ Pháp do Pháp không tham gia Cấu trúc Chỉ huy Quân sự NATO từ năm 1966 đến năm 1995. Pháp từng không tham gia Ủy ban Kế hoạch Quốc phòng, dẫn đến xung đột với những nước thành viên khác,[184] ví dụ như trong giai đoạn trước cuộc tấn công Iraq năm 2003.[185]
- Bộ Tư lệnh Tác chiến Đồng minh (ACO) chịu trách nhiệm về các hoạt động của NATO trên toàn thế giới.[186]
- Các Quân đoàn Triển khai Nhanh bao gồm Eurocorps, Quân đoàn Đức - Hà Lan 1, Quân đoàn Đa quốc gia Đông Bắc và Quân đoàn Triển khai NATO - Ý cùng với các đơn vị khác, cũng như Lực lượng Sẵn sàng Cao hải quân, tất cả đều báo cáo Bộ Tư lệnh Tác chiến Đồng minh.[187]
- Bộ Tư lệnh Chuyển đổi Đồng minh (ACT) chịu trách nhiệm chuyển đổi và huấn luyện lực lượng NATO.[188]
Thẩm quyền của tư lệnh NATO
[sửa | sửa mã nguồn]
Thẩm quyền của một tư lệnh NATO bị hạn chế. Tư lệnh NATO không thể trừng phạt các vi phạm như bất tuân lệnh hợp pháp, sao nhãng nhiệm vụ hoặc thiếu tôn trọng sĩ quan cấp cao.[189] Cấp dưới của các tư lệnh NATO vẫn phải tuân theo bộ luật quân sự của nước họ. Một ví dụ điển hình về quyền lực hạn chế của tư lệnh NATO là sự cố tại Sân bay Pristina.[190]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tổ chức tương tự
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ /ˈneɪtoʊ/, NAY-toh. Cũng được gọi là "Liên minh Bắc Đại Tây Dương". tiếng Pháp: Organisation du traité de l'Atlantique Nord (OTAN).
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Final Communiqué". NATO. ngày 17 tháng 9 năm 1949. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2024.
English and French shall be the official languages for the entire North Atlantic Treaty Organization.
- ↑ "The North Atlantic Treaty" (bằng tiếng Anh). NATO. ngày 4 tháng 4 năm 1949. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2024.
This Treaty, of which the English and French texts are equally authentic ...
- ↑ "Mark Rutte takes office as NATO Secretary General" (bằng tiếng Anh). NATO. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Defence Expenditure of NATO Countries (2014–2025)" (PDF). NATO.
- ↑ "Defence expenditures and NATO's 5% commitment". NATO (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Funding NATO". NATO. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "NATO defense spending tracker". Atlantic Council. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Biden, Johnson sign new Atlantic Charter on trade, defense amid Covid recovery". NBC News (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "The origins of WEU: Western Union". University of Luxembourg. tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "A short history of NATO". NATO. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2017.
- ↑ "Canada and NATO – 1949". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2022.
- ↑ Findley, Paul (2011). Speaking Out: A Congressman's Lifelong Fight Against Bigotry, Famine, and War. Chicago Review Press, Incorporated. ISBN 9781569768914. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2022.
- ↑ The McGraw-Hill Encyclopedia of World Biography: An International Reference Work. McGraw-Hill. 1973. ISBN 9780070796331. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2022.
- ↑ Ismay, Hastings (ngày 4 tháng 9 năm 2001). "NATO the first five years 1949–1954". NATO. Bản gốc lưu trữ 15 tháng 3 2017. Truy cập 10 tháng 4 2012.
- ↑ Baldwin, Hanson (ngày 28 tháng 9 năm 1952). "Navies Meet the Test in Operation Mainbrace". New York Times: E7. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012.
- ↑ "NATO: The Man with the Oilcan". Time. ngày 24 tháng 3 năm 1952. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012.
- ↑ Glass, Andrew (ngày 14 tháng 5 năm 2014). "Soviet Union establishes Warsaw Pact, May 14, 1955". Politico. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2022.
- ↑ Olmsted, Dan (tháng 9 năm 2020). "Should the United States Keep Troops in Germany?". National WW2 Museum. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2021.
- ↑ van der Eyden 2003, tr. 104–106.
- 1 2 3 Cody, Edward (ngày 12 tháng 3 năm 2009). "After 43 Years, France to Rejoin NATO as Full Member". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011.
- ↑ "Spain and NATO". Country Studies US. Source: U.S. Library of Congress. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2021.
- ↑ Harding, Luke (ngày 14 tháng 7 năm 2007). "Kremlin tears up arms pact with Nato". The Observer. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2012.
- ↑ Kimball, Daryl (tháng 8 năm 2017). "The Conventional Armed Forces in Europe (CFE) Treaty and the Adapted CFE Treaty at a Glance". Arms Control Association. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2021.
- ↑ Techau, Jan (ngày 2 tháng 9 năm 2015). "The Politics of 2 Percent: NATO and the Security Vacuum in Europe". Carnegie Europe. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2021.
- ↑ Eichler, Jan (2021). NATO's Expansion After the Cold War: Geopolitics and Impacts for International Security. Springer Nature. tr. 34, 35. ISBN 9783030666415.
- ↑ "Declassified documents show security assurances against NATO expansion to Soviet leaders from Baker, Bush, Genscher, Kohl, Gates, Mitterrand, Thatcher, Hurd, Major, and Woerner". National Security Archive. ngày 12 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Wiegrefe, Klaus (ngày 18 tháng 2 năm 2022). "Neuer Aktenfund von 1991 stützt russischen Vorwurf". Der Spiegel. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Baker, Peter (ngày 9 tháng 1 năm 2022). "In Ukraine Conflict, Putin Relies on a Promise That Ultimately Wasn't". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Kórshunov, Maxim (ngày 16 tháng 10 năm 2014). "Mikhail Gorbachev: I am against all walls". Russia Beyond. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "NATO Announces Special 70th Anniversary Summit In London In December". Radio Free Europe/Radio Liberty. ngày 6 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2019.
- ↑ Jing Ke (2008). "Did the US Media Reflect the Reality of the Kosovo War in an Objective Manner? A Case Study of The Washington Post and The Washington Times" (PDF). University of Rhode Island. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2019.
- ↑ "Relations with the Republic of North Macedonia (Archived)". NATO (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Invocation of Article 5 confirmed". North Atlantic Treaty Organization. ngày 3 tháng 10 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2013.
- ↑ "Counter-piracy operations". North Atlantic Treaty Organization. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2011.
- 1 2 Stratton, Allegra (ngày 17 tháng 6 năm 2008). "Sarkozy military plan unveiled". The Guardian. UK. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Defence Planning Committee (DPC) (Archived)". NATO. ngày 11 tháng 11 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2016.
- ↑ "Statement by the North Atlantic Council following meeting under article 4 of the Washington Treaty". NATO Newsroom. ngày 4 tháng 3 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2014.
- ↑ "The consultation process and Article 4". NATO. ngày 24 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
- ↑ Techau, Jan (ngày 2 tháng 9 năm 2015). "The Politics of 2 Percent: NATO and the Security Vacuum in Europe". Carnegie Europe. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2018.
A month before [the alliance's summit in Riga in 2006], Victoria Nuland, then the U.S. ambassador to NATO, called the 2 percent metric the "unofficial floor" on defence spending in NATO. But never had all governments of NATO's 28 nations officially embraced it at the highest possible political level – a summit declaration.
- 1 2 "NATO's military presence in the east of the Alliance". NATO. ngày 28 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
- ↑ McLeary, Paul; Toosi, Nahal (ngày 11 tháng 2 năm 2022). "U.S. sending 3,000 more troops to Poland amid fresh Ukraine invasion warnings". Politico. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "Spain sends warships to Black Sea, considers sending warplanes". Reuters. ngày 21 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "Spain will send four fighter jets and 130 troops to Bulgaria". Reuters. ngày 9 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "NATO, G7, EU leaders display unity, avoid confrontation with Russia". Deutsche Welle. ngày 25 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
- ↑ Gonzalez, Oriana (ngày 26 tháng 2 năm 2022). "NATO Response Force deploys for first time". Axios. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "NATO BOOSTS FORCES IN EAST TO DETER RUSSIAN MENACE". BIRN. Balkan Insight. Balkan Investigative Reporting Network. ngày 14 tháng 6 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "Germany is building a big scary army". The Economist. ISSN 0013-0613. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Satta, Marianna (ngày 18 tháng 1 năm 2026). "The Greenland Fracture: Strategic Divergence and the De-coherence of the North Atlantic Alliance". Atlas Institute for International Affairs. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "When Allies Become Threats: What U.S. Pressure on Greenland Reveals about NATO's Fragility and Canada's Arctic Vulnerability". NAOC (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Mason, Rowena; Stewart, Heather; Topham, Gwyn; Elgot, Jessica (ngày 20 tháng 3 năm 2026). "UK ministers begin contingency planning amid economic fears over Iran war". The Guardian. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Chiacu, Doina (ngày 20 tháng 3 năm 2026). "Trump calls NATO cowards over lack of support in Iran war". Reuters. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Trump Slams NATO as 'Paper Tiger'". The Wall Street Journal. ngày 6 tháng 4 năm 2026.
- 1 2 "NATO's Operations 1949–Present" (PDF). NATO. 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013.
- ↑ Zenko 2010, tr. 133–134.
- ↑ Zenko 2010, tr. 134.
- ↑ NATO Handbook: Evolution of the Conflict, NATO, Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2001
- ↑ UN Document A/54/549, Report of the Secretary-General pursuant to General Assembly resolution 53/35: The fall of Srebrenica, un.org, Lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2009 tại Wayback Machine, accessed 25 April 2015.
- ↑ Bethlehem & Weller 1997, tr. liiv.
- 1 2 Zenko 2010
- ↑ Clausson 2006, tr. 94–97.
- ↑ Tice, Jim (ngày 22 tháng 2 năm 2009). "Thousands more now eligible for NATO Medal". Army Times. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012.
- ↑ Crossette, Barbara (ngày 24 tháng 9 năm 1998). "Security Council tells Serbs to stop Kosovo offensive". The New York Times. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "Nato to strike Yugoslavia". BBC News. ngày 24 tháng 3 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2015.
- ↑ Thorpe, Nick (ngày 24 tháng 3 năm 2004). "UN Kosovo mission walks a tightrope". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012.
- ↑ "The Kosovo refugee crisis" (PDF). United Nations High Commissioner for Refugees. ngày 19 tháng 12 năm 2005. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "NATO reaffirms power to take action without UN approval". CNN. ngày 24 tháng 4 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ "Allied Command Atlantic". NATO Handbook. NATO. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
- ↑ "Kosovo Report Card". International Crisis Group. ngày 28 tháng 8 năm 2000. Bản gốc lưu trữ 4 tháng 3 2012. Truy cập 11 tháng 4 2012.
- ↑ Helm, Toby (ngày 27 tháng 9 năm 2001). "Macedonia mission a success, says Nato". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012.
- ↑ "NATO's role in Kosovo". NATO. ngày 10 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Münch, Philipp (2021). "Creating common sense: Getting NATO to Afghanistan". Journal of Transatlantic Studies. 19 (2): 138–166. doi:10.1057/s42738-021-00067-0. ISSN 1479-4012.
- ↑ "NATO Update: Invocation of Article 5 confirmed". NATO. ngày 2 tháng 10 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "NATO takes historic step into Afghanistan". Al Jazeera. Reuters. ngày 11 tháng 8 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "UNSC Resolution 1510, October 13, 2003" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2010.
- ↑ Morales, Alex (ngày 5 tháng 10 năm 2006). "NATO Takes Control of East Afghanistan From U.S.-Led Coalition". Bloomberg L.P. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ "La France et l'OTAN". Le Monde (bằng tiếng Pháp). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2011.
- ↑ "NATO sets "irreversible" but risky course to end Afghan war". Reuters. Reuters. ngày 21 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012.
- ↑ Rasmussen, Sune Engel (ngày 28 tháng 12 năm 2014). "Nato ends combat operations in Afghanistan". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2019.
- ↑ "NATO to Cut Forces in Afghanistan, Match US Withdrawal". VOA News. ngày 14 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ↑ Graham-Harrison, Emma (ngày 13 tháng 7 năm 2021). "Afghanistan stunned by scale and speed of security forces' collapse". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Taliban surge in Afghanistan: EU and NATO in state of shock". Deutsche Welle. ngày 16 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Afghanistan takeover sparks concern from NATO allies". Deutsche Welle. ngày 16 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Migration fears complicate Europe's response to Afghanistan crisis". Politico. ngày 16 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Official Website". Jfcnaples.nato.int. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2013.
- ↑ El Gamal, Rania (ngày 17 tháng 12 năm 2011). "NATO closes up training mission in Iraq". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012.
- ↑ Croft, Adrian (ngày 3 tháng 10 năm 2012). "NATO demands halt to Syria aggression against Turkey". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012.
- ↑ Ford, Dana (ngày 26 tháng 7 năm 2015). "Turkey calls for rare NATO talks after attacks along Syrian border". Cnn.com. CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
- ↑ "Operation Allied Provider". Supreme Headquarters Allied Powers Europe. ngày 30 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2024.
- ↑ "Operation Ocean Shield". NATO. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2011.
- ↑ "2009 Operation Ocean Shield News Articles". NATO. tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2011.
- ↑ "Operation Ocean Shield purpose". ngày 12 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2016.
- ↑ "Counter-piracy operations (2008-2016)". NATO. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Security Council Approves 'No-Fly Zone' over Libya, Authorizing 'All Necessary Measures' to Protect Civilians, by Vote of 10 in Favour with 5 Abstentions". United Nations Meetings Coverage and Press Releases. ngày 17 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Anrig, Christian F. (2011). "Allied Air Power over Libya: A Preliminary Assessment". Air & Space Power Journal. 25 (4): 1.
- ↑ "Statement by the NATO Secretary General on Libya arms embargo". NATO. ngày 22 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2011.
- ↑ "Press briefing by NATO Spokesperson Oana Lungescu, Brigadier General Pierre St-Amand, Canadian Air Force and General Massimo Panizzi, spokesperson of the Chairman of the Military Committee". NATO. ngày 23 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2011.
- ↑ "NATO reaches deal to take over Libya operation; allied planes hit ground forces". Washington Post. ngày 25 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011.
- ↑ "NATO to police Libya no-fly zone". English.aljazeera.net. ngày 24 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2011.
- ↑ O'Sullivan, Arieh (ngày 31 tháng 3 năm 2011). "UAE and Qatar pack an Arab punch in Libya operation". Jerusalem Post. se. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2013.
- ↑ "NATO strikes Tripoli, Gaddafi army close on Misrata" Lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2011 tại Wayback Machine, Khaled al-Ramahi.
- ↑ X (ngày 9 tháng 6 năm 2011). "Gates calls for more NATO allies to join Libya air campaign". Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
- ↑ AFP (ngày 10 tháng 6 năm 2011). "Danish planes running out of bombs". Times of Malta (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
- ↑ "Navy chief: Britain cannot keep up its role in Libya air war due to cuts" Lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2018 tại Wayback Machine, James Kirkup.
- ↑ "NATO: Ongoing resistance by pro-Gadhafi forces in Libya is 'surprising'". The Washington Post. UPI. ngày 11 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2013.
- ↑ "NATO strategy in Libya may not work elsewhere". USA Today. ngày 21 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011.
- ↑ Tharoor, Ishaan (ngày 16 tháng 5 năm 2012). "How Many Innocent Civilians Did NATO Kill in Libya?". Time Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2016.
- ↑ Croft, Adrian. "NATO to advise Libya on strengthening security forces". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2017.
- ↑ "PM: Turkey may invoke NATO's Article 5 over Syrian border fire". TodaysZaman (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
- ↑ "Observers say NATO's fifth charter comes into play if clashes with Syria get worse". TodaysZaman (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
- ↑ "The consultation process and Article 4". NATO. ngày 24 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2022.
- ↑ telegraph.co.uk: "Turkey calls for emergency Nato meeting to discuss Isil and PKK" Lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2022 tại Wayback Machine, 26 July 2015
- ↑ Ford, Dana (ngày 27 tháng 7 năm 2015). "Turkey calls for rare NATO talks after attacks along Syrian border". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Barnard, Anne; Gordon, Michael R.; Schmitt, Eric (ngày 27 tháng 7 năm 2015). "Turkey and U.S. Plan to Create Syria 'Safe Zone' Free of ISIS". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2022.
- ↑ "Statement by the North Atlantic Council following meeting under Article 4 of the Washington Treaty". NATO. ngày 28 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Greece 'vetoes NATO statement' on support for Turkey amid Syria escalation". ngày 29 tháng 2 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
The Russian military later explained that the Syrian army targeted Hayat Tahrir al-Sham terrorists operating in the province, adding that Syrian government forces were not informed about the Turkish presence in the area.
- ↑ "Russia denies involvement in airstrikes on Turkish troops in Idlib". Daily Sabah. ngày 28 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "The North Atlantic Treaty". NATO (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 4 năm 1949. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2024.
- ↑ Collins 2011, tr. 122–123.
- ↑ "The area of responsibility". NATO Declassified. NATO. ngày 23 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2013.
- ↑ "Washington Treaty". NATO. ngày 11 tháng 4 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2013.
- ↑ "How does a country join NATO?". Al Jazeera. ngày 12 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Denmark and NATO – 1949". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "Why the concept of Gaullo-Mitterrandism is still relevant". IRIS. ngày 29 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Member countries". NATO (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "Relations with the Republic of North Macedonia (Archived)". NATO (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "NATO's border with Russia doubles as Finland joins". BBC News. ngày 4 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Notification Reference No. 2024-008" (PDF). United States Department of State. ngày 7 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2024.
- ↑ "NATO Topics: Individual Partnership Action Plans". NATO. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2013.
- ↑ "Yanukovych signs law declaring Ukraine's non-aligned status". Kyiv Post. ngày 15 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Ukraine drops non-aligned status in swipe at Moscow". France 24. ngày 23 tháng 12 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2024.
- ↑ "Ukraine's parliament backs changes to Constitution confirming Ukraine's path toward EU, NATO". Ukrainian Independent Information Agency. ngày 7 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2024.
- ↑ "The law amending the Constitution on the course of accession to the EU and NATO has entered into force | European integration portal". eu-ua.org (bằng tiếng Ukraina). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2021.
- ↑ "Brussels Summit Communiqué issued by the Heads of State and Government participating in the meeting of the North Atlantic Council in Brussels 14 June 2021". NATO. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "Russia will act if Nato countries cross Ukraine 'red lines', Putin says". The Guardian. ngày 30 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "NATO Pushes Back Against Russian President Putin's 'Red Lines' Over Ukraine". The Drive. ngày 1 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Putin warns Russia will act if NATO crosses its red lines in Ukraine". Reuters. ngày 30 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Russia demands NATO roll back from East Europe and stay out of Ukraine". Reuters. ngày 17 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2024.
- ↑ "NATO chief: "Russia has no right to establish a sphere of influence"". Axios. ngày 1 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Is Russia preparing to invade Ukraine? And other questions". BBC News. ngày 10 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "US offers no concessions in response to Russia on Ukraine". Associated Press. ngày 26 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2024.
- ↑ "Ukraine applies for Nato membership after Russia annexes territory". The Guardian. ngày 30 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2022.
- ↑ George J, Teigen JM (2008). "NATO Enlargement and Institution Building: Military Personnel Policy Challenges in the Post-Soviet Context". European Security. 17 (2): 346. doi:10.1080/09662830802642512. ISSN 0966-2839. S2CID 153420615.
- ↑ Cathcourt, Will (ngày 27 tháng 3 năm 2014). "Obama Tells Georgia to Forget About NATO After Encouraging It to Join". The Daily Beast. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2014.
- ↑ Klussmann, Uwe; Schepp, Matthias; Wiegrefe, Klaus (ngày 26 tháng 11 năm 2009). "NATO's Eastward Expansion: Did the West Break Its Promise to Moscow?". Spiegel Online. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2014.
- ↑ Levada-Center and Chicago Council on Global Affairs about Russian-American relations Lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2017 tại Wayback Machine.
- ↑ "Pew survey: Russia disliked around world; most in Poland, Turkey see Kremlin as major threat". Kyiv Post. ngày 16 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2018.
- ↑ "NATO summit: Poland pins its hopes on the USA". Deutsche Welle. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2018.
- ↑ Smith, Michael (ngày 10 tháng 2 năm 2017). "Most NATO Members in Eastern Europe See It as Protection". Gallup. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2018.
- ↑ "NATO Common Funds Burdensharing: Background and Current Issues". Congressional Research Service. ngày 15 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2024.
- 1 2 3 4 Farley, Robert; Kiely, Eugene (ngày 13 tháng 2 năm 2024). "Fact-checking Trump comments on 'delinquent' NATO countries". Roll Call. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2024.
- 1 2 3 "Funding NATO". North Atlantic Treaty Organization. ngày 14 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2024.
- 1 2 Gray, Andrew; Siebold, Sabine (ngày 13 tháng 2 năm 2024). "What did Trump say about NATO funding and what is Article 5?". Reuters. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2024.
- ↑ Sabbagh, Dan (ngày 14 tháng 2 năm 2024). "Nato chief rebukes Donald Trump and announces record defence spending". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2024.
- 1 2 "Secretary General in Washington: NATO makes America stronger". NATO.int. NATO. ngày 17 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
- 1 2 Knickmeyer, Ellen; Seung Min Kim (ngày 17 tháng 6 năm 2024). "A record number of NATO allies are hitting their defense spending target during war in Ukraine". APNews.com. Associated Press. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "NATO Spending by Country 2025". World Population Review (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Cooperative Archer military exercise begins in Georgia". RIA Novosti. ngày 9 tháng 7 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2013.
- 1 2 "Partnership for Peace". NATO. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2011.
- ↑ "Nato and Belarus – partnership, past tensions and future possibilities". Foreign Policy and Security Research Center. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010.
- ↑ "NATO Topics: The Euro-Atlantic Partnership Council". NATO. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "Declaration by the North Atlantic Treaty Organization and the Islamic Republic of Afghanistan". NATO. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.
- ↑ Boxhoorn, Bram (ngày 21 tháng 9 năm 2005). "Broad Support for NATO in the Netherlands". ATA Education. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2022.
- ↑ Howorth, Jolyon (2019). "Strategic Autonomy and EU-NATO Cooperation: A Win-Win Approach". L'Europe en Formation. 389 (2): 85–103. doi:10.3917/eufor.389.0085. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Official Journal of the European Union". EUR-Lex. ngày 7 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "NATO Partner countries". NATO. ngày 6 tháng 3 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2011.
- ↑ "Qatar signs security agreement with NATO". NATO. ngày 16 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "Qatar eyes full NATO membership: Defense minister". The Peninsula. ngày 5 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "Nato rejects Qatar membership ambition". Dhaka Tribune. ngày 6 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "NATO Topics:NATO's relations with Contact Countries". NATO. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2013.
- ↑ "NATO PARTNERSHIPS: DOD Needs to Assess U.S. Assistance in Response to Changes to the Partnership for Peace Program" (PDF). United States Government Accountability Office. tháng 9 năm 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2013.
- ↑ "Partners". NATO. ngày 2 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012.
- ↑ "Topic: NATO's partnerships". NATO. ngày 12 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Mair, John; Packham, Colin (ngày 7 tháng 8 năm 2019). "NATO needs to address China's rise, says Stoltenberg". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "Relations with Colombia". nato.int. ngày 19 tháng 5 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2017.
- ↑ "Colombia to be NATO's first Latin American global partner". Reuters. ngày 26 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Topic: Consensus decision-making at NATO". NATO. ngày 5 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Piehler, G. Kurt (ngày 24 tháng 7 năm 2013). Encyclopedia of Military Science. SAGE Publications. tr. 991–995. ISBN 978-1-5063-1081-7. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "NATO Parliamentary Assembly in brief". The House of Commons. ngày 30 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "NATO homepage". Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2006.
- ↑ "NATO Headquarters". NATO. ngày 10 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.
- ↑ Small, Melvin (ngày 1 tháng 6 năm 1998). "The Atlantic Council—The Early Years" (PDF). NATO. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015.
- ↑ "Atlantic Treaty Association and Youth Atlantic Treaty Association". NATO. ngày 7 tháng 4 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Chair of the Military Committee". NATO. ngày 31 tháng 3 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "France to rejoin NATO command". CNN. ngày 17 tháng 6 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ Fuller, Thomas (ngày 18 tháng 2 năm 2003). "Reaching accord, EU warns Saddam of his 'last chance'". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2007.
- ↑ "About us". Supreme Headquarters Allied Powers Europe. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "The Rapid Deployable Corps". NATO. ngày 26 tháng 11 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ "Who We Are". Allied Command Transformation. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Randall, Thomas E. (tháng 7 năm 2014). "Legal Authority of NATO Commanders" (PDF). NATO Legal Gazette (34): 39–45. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2021.
- ↑ Jackson, General Sir Mike (ngày 4 tháng 9 năm 2007). "Gen Sir Mike Jackson: My clash with Nato chief". Telegraph Media Group Limited. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022.
Thư mục
[sửa | sửa mã nguồn]- Art, Robert J. (1998). "Creating a Disaster: NATO's Open Door Policy". Political Science Quarterly. 113 (3): 383–403. doi:10.2307/2658073. JSTOR 2658073.
- Bethlehem, Daniel L.; Weller, Marc (1997). The 'Yugoslav' Crisis in International Law. Cambridge International Documents Series. Quyển 5. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-46304-1. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- Clausson, M.I. (2006). NATO: Status, Relations, and Decision-Making. Nova Publishers. ISBN 978-1-60021-098-3. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- Collins, Brian J. (2011). NATO: A Guide to the Issues. ABC-CLIO. ISBN 978-0-313-35491-5. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- van der Eyden, Ton (2003). Public management of society: rediscovering French institutional engineering in the European context. Quyển 1. IOS Press. ISBN 978-1-58603-291-3. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- Zenko, Micah (2010). Between Threats and War: U.S. Discrete Military Operations in the Post-Cold War World. Stanford University Press. ISBN 978-0-8047-7191-7. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- "Transforming the NATO Military Command Structure: A New Framework for Managing the Alliance's Future" (PDF). Atlantic Council of the United States. August 2003. Archived from the original (PDF) on 3 October 2012.
- Axelrod, Robert, and Silvia Borzutzky. "NATO and the War on Terror: The Organizational Challenges of the Post 9/11 World." Review of International Organizations 1.3 (2006): 293–307. online
- Borawski, John, and Thomas-Durell Young. NATO after 2000: the future of the Euro-Atlantic Alliance (Greenwood, 2001).
- Colbourn, Susan (2022). Euromissiles: The Nuclear Weapons That Nearly Destroyed NATO. Ithaca, New York: Cornell University Press. ISBN 978-1501766022.
- Hendrickson, Ryan C. "NATO's next secretary general: Rasmussen's leadership legacy for Jens Stoltenberg." Journal of Transatlantic Studies (2016), 15#3, pp. 237–251.
- Ismay, Hastings (1954). "NATO: The First Five Years". Paris, France: NATO. Archived from the original on 15 March 2017. Retrieved 4 April 2017.
- "NATO at 70: Balancing Collective Defense and Collective Security", Special issue of Journal of Transatlantic Studies, 17#2 (June 2019), pp. 135–267.
- NATO Office of Information and Press, NATO Handbook: Fiftieth Anniversary Edition, NATO, Brussels, Belgium, 1998–1999, Second Reprint.ISBN 92-845-0134-2
- Pedlow, Gregory W. "Evolution of NATO's Command Structure 1951–2009" (PDF). aco.nato.int. Brussels(?): NATO ACO. Archived from the original (PDF) on 21 July 2011. Retrieved 18 February 2015.
- Sayle, Timothy Andrews. Enduring Alliance: A History of NATO and the Postwar Global Order (Cornell University Press, 2019), online review.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Quan hệ xuyên Đại Tây Dương
- Siêu tổ chức
- Tổ chức có trụ sở tại Bruxelles
- Liên minh quân sự liên quan tới Hoa Kỳ
- Liên minh quân sự liên quan tới Vương quốc Liên hiệp Anh
- Liên minh quân sự liên quan tới Thổ Nhĩ Kỳ
- Liên minh quân sự liên quan tới Tây Ban Nha
- Liên minh quân sự liên quan tới România
- Liên minh quân sự liên quan tới Bồ Đào Nha
- Liên minh quân sự liên quan tới Ba Lan
- Liên minh quân sự liên quan tới Hà Lan
- Liên minh quân sự liên quan tới Luxembourg
- Liên minh quân sự liên quan tới Litva
- Liên minh quân sự liên quan tới Latvia
- Liên minh quân sự liên quan tới Ý
- Liên minh quân sự liên quan tới Hungary
- Liên minh quân sự liên quan tới Hy Lạp
- Liên minh quân sự liên quan tới Pháp
- Liên minh quân sự liên quan tới Estonia
- Liên minh quân sự liên quan tới Canada
- Liên minh quân sự liên quan tới Bulgaria
- Liên minh quân sự liên quan tới Bỉ
- Quan hệ ngoại giao của Liên Xô
- Tổ chức chiến tranh Lạnh
- Hiệp ước Chiến tranh Lạnh
- Tổ chức chống cộng
- Khởi đầu năm 1949 ở Washington, D.C.
- NATO