Albert Einstein
Albert Einstein[gc 2] (14 tháng 3 năm 1879 – 18 tháng 4 năm 1955) là một nhà vật lý lý thuyết người Đức, được công nhận là một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất mọi thời đại. Ông là người đã phát triển thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột còn lại là cơ học lượng tử). Mặc dù được biết đến nhiều nhất qua phương trình về sự tương đương khối lượng-năng lượng được xem là "phương trình nổi tiếng nhất thế giới",[4] ông lại được trao Giải Nobel Vật lý năm 1921 "cho những cống hiến của ông đối với vật lý lý thuyết, và đặc biệt cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện".[5] Công trình về hiệu ứng quang điện của ông mang tính bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử.
Khi bắt đầu sự nghiệp của mình, Einstein đã nhận ra cơ học Newton không còn có thể thống nhất các định luật của cơ học cổ điển với các định luật của trường điện từ. Từ đó ông phát triển thuyết tương đối đặc biệt, với các bài báo đăng trong năm 1905. Tuy nhiên, ông nhận thấy nguyên lý tương đối có thể mở rộng cho cả trường hấp dẫn, và điều này dẫn đến sự ra đời của lý thuyết về hấp dẫn trong năm 1916 - năm ông xuất bản một bài báo về thuyết tương đối tổng quát. Ông tiếp tục nghiên cứu các bài toán của cơ học thống kê và lý thuyết lượng tử, trong đó đưa ra những giải thích về lý thuyết hạt và sự chuyển động của các phân tử. Ông cũng nghiên cứu các tính chất nhiệt học của ánh sáng và đặt cơ sở cho lý thuyết lượng tử ánh sáng. Năm 1917, Einstein sử dụng thuyết tương đối tổng quát để miêu tả mô hình cấu trúc của toàn thể vũ trụ.[6] Cùng với Satyendra Nath Bose, năm 1924-1925 ông tiên đoán một trạng thái vật chất mới đó là ngưng tụ Bose-Einstein của những hệ lượng tử ở trạng thái gần độ không tuyệt đối.[7] Tuy cũng là cha đẻ của thuyết lượng tử, nhưng ông lại tỏ ra khắt khe với lý thuyết này. Điều này thể hiện qua những tranh luận của ông với Niels Bohr và nghịch lý EPR về lý thuyết lượng tử.[8]
Khi ông đang thăm Hoa Kỳ thì Adolf Hitler lên nắm quyền vào năm 1933, do vậy ông đã không trở lại nước Đức, nơi ông đang là giáo sư ở Viện Hàn lâm Khoa học Berlin. Ông định cư tại Hoa Kỳ và chính thức trở thành công dân Mỹ vào năm 1940.[9] Vào lúc sắp diễn ra Chiến tranh thế giới lần hai, ông đã ký vào một lá thư cảnh báo Tổng thống Franklin D. Roosevelt rằng Đức Quốc Xã có thể đang nghiên cứu phát triển "một loại bom mới cực kỳ nguy hiểm" và khuyến cáo nước Mỹ nên có những nghiên cứu tương tự. Điều đó dẫn đến sự ra đời của Dự án Manhattan sau này. Einstein ủng hộ việc bảo vệ các lực lượng Đồng Minh, nhưng nhìn chung, ông chống lại việc sử dụng phát kiến mới về phân hạch hạt nhân làm vũ khí. Sau này, cùng với nhà triết học người Anh Bertrand Russell, ông đã ký Tuyên ngôn Russell–Einstein, nêu bật sự nguy hiểm của vũ khí hạt nhân. Einstein làm việc tại Viện Nghiên cứu Cao cấp ở Princeton, New Jersey cho đến khi ông qua đời vào năm 1955.
Einstein đã công bố hơn 300 bài báo khoa học và hơn 150 bài viết khác về những chủ đề khác nhau, ông cũng nhận được nhiều bằng tiến sĩ danh dự trong khoa học, y học và triết học từ nhiều cơ sở giáo dục đại học ở châu Âu và Bắc Mỹ.[6][10] Ông được tạp chí Time bầu chọn là người có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20.[11]
Tiểu sử
Thời niên thiếu và giáo dục


Albert Einstein chào đời tại thành phố Ulm thuộc Vương quốc Württemberg của Đế quốc Đức[gc 1] vào ngày 14 tháng 3 năm 1879.[12] Cha mẹ của cậu là những người Do Thái Ashkenazi theo lối sống thế tục; cha cậu là Hermann Einstein, một nhân viên bán hàng kiêm kĩ sư, còn mẹ cậu là Pauline Koch. Năm 1880, gia đình chuyển đến khu Ludwigsvorstadt-Isarvorstadt thuộc thành phố München; tại đây, cha của Einstein cùng người chú Jakob đã thành lập Elektrotechnische Fabrik J. Einstein & Cie — một công ty chuyên sản xuất thiết bị điện sử dụng điện một chiều.[12]
Khi còn nhỏ, cha mẹ Einstein lo ngại rằng cậu mắc chứng khuyết tật học tập bởi cậu học nói rất chậm.[13] Lúc năm tuổi, khi phải nằm trên giường vì bị ốm, bố cậu đã cho cậu một chiếc la bàn. Điều này đã khơi dậy niềm đam mê suốt đời của cậu với điện từ học Cậu nhận ra rằng "phải có cái gì đó ẩn rất sâu đằng sau mọi việc".[14]
Albert học trường tiểu học Công giáo lúc 5 tuổi trong vòng 3 năm. Sau đó, lên 8 tuổi, Einstein được chuyển đến trường Luitpold, nơi cậu học tiểu học nâng cao và trung học trong vòng 7 năm trước khi rời nước Đức.[15]
Vào năm 1894, công ty của Hermann và Jakob đã tham gia đấu thầu một hợp đồng lắp đặt hệ thống chiếu sáng điện tại München, nhưng không thành công—họ thiếu nguồn vốn để chuyển đổi công nghệ từ điện một chiều sang điện xoay chiều hiệu quả hơn.[20] Thất bại trong lần đấu thầu này đã buộc họ phải bán nhà máy tại München và tìm kiếm những cơ hội mới ở nơi khác. Gia đình Einstein chuyển đến Ý, ban đầu đến Milan, vài tháng sau đó là Pavia, nơi họ định cư tại Palazzo Cornazzani.[16] Einstein, khi đó 15 tuổi, ở lại München để tiếp tục học tập. Cha Einstein dự định muốn cậu theo học kĩ thuật điện, nhưng là một học trò ngỗ nghịch, cậu cảm thấy chế độ kỷ luật cũng như phương pháp giảng dạy tại trường Gymnasium hoàn toàn không phù hợp với mình. Sau này Einstein viết rằng chính sách học thuộc lòng một cách cứng nhắc của ngôi trường này gây tổn hại đến sự sáng tạo. Đến cuối tháng 12 năm 1894, cậu được ban lãnh đạo trường Luitpold cho nghỉ học sau khi nhận được một lá thư từ một bác sĩ và cậu đoàn tụ với gia đình tại Pavia.[17] Trong thời gian ở Ý, Einstein đã viết một tiểu luận khoa học ngắn với nhan đề, "Khảo cứu trạng thái Ether trong từ trường".[18][19]
Einstein bộc lộ tài năng xuất sắc về vật lý và toán học từ khi còn nhỏ, và sớm đạt trình độ toán học thường chỉ thấy ở một đứa trẻ lớn hơn vài tuổi. Năm 12 tuổi, cậu bắt đầu tự học đại số, vi tích phân và hình học Euclid; cậu tiến bộ nhanh đến mức có thể tìm ra một cách chứng minh độc đáo cho định lý Pythagoras trước khi bước sang tuổi thứ 13.[20][21] Một gia sư của gia đình, Max Talmud, nói rằng chỉ một thời gian ngắn sau khi đưa Einstein, lúc đó mới mười hai tuổi, một cuốn sách giáo khoa hình học, cậu bé "đã học hết toàn bộ cuốn sách. Cậu ta còn dành thời gian học toán cao cấp... Chẳng mấy chốc, tài năng toán học nơi cậu ta đã bay cao đến mức mà tôi không còn theo được nữa."[22] Einstein đã ghi lại rằng ông "thành thạo các phép tính vi phân và tích phân" khi mới 14 tuổi.[23] Tình yêu của cậu dành cho đại số và hình học lớn đến nỗi ở tuổi 12, cậu tin rằng thiên nhiên có thể được hiểu như một "cấu trúc toán học".[24]

Năm 13 tuổi, khi sở thích của cậu bắt đầu mở rộng sang âm nhạc và triết học,[25] Talmud đã chỉ cho Einstein cuốn sách Phê phán lý tính thuần túy của Immanuel Kant. Theo lời của Talmud, Kant trở thành triết gia yêu thích của Einstein: "Khi đó, cậu ta mới chỉ là một đứa trẻ 13 tuổi, thế nhưng những tác phẩm của Kant, vốn khó hiểu đối với những người bình thường, dường như lại rất rõ ràng với cậu ta."[26]
Năm 1895, ở tuổi 16, Einstein tham gia thi tuyển vào Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ (sau này là Eidgenössische Technische Hochschule, ETH) ở Zurich . Mặc dù đạt điểm cao ở môn Vật lý và Toán học,[27] nhưng ông không trúng tuyển do không đạt điểm chuẩn ở một số môn.[28] Theo lời khuyên của hiệu trưởng trường ETH Zürich, ông hoàn thành chương trình trung học tại Trường bang Argovia ở Aarau, Thụy Sĩ, tốt nghiệp năm 1896.[29] Trong khi ở trọ với gia đình giáo sư Jost Winteler, ông đã yêu Marie, người con gái của gia đình. (Em gái Maja Einstein sau này lấy người con trai Paul của Wintelet.)[30]
Vào tháng 1 năm 1896, với sự đồng ý của cha, Einstein đã từ bỏ quyền công dân của vương quốc Württemberg để tránh nghĩa vụ quân sự.[31] Tháng 9 năm 1896, cậu tốt nghiệp bậc học phổ thông của Thụy Sĩ. Chứng chỉ Matura (chứng nhận tốt nghiệp hoàn thành bậc trung học phổ thông), ghi nhận rằng cậu đã đạt thành tích xuất sắc trong hầu hết các môn học thuộc chương trình giảng dạy; cậu đạt điểm số tối đa là 6 cho các môn Lịch sử, Vật lý, Đại số, Hình học và Hình học họa hình.[32] Năm 17 tuổi, cậu theo học chương trình cấp bằng sư phạm toán học và vật lý kéo dài bốn năm tại Trường Bách khoa Liên bang. Tại đây, cậu kết thân với bạn học Marcel Grossmann, người giúp cậu hoàn thành việc học bất chấp thói quen học tập khá tùy hứng của Einstein, và sau này còn hỗ trợ ông xây dựng nền tảng toán học vững chắc cho những khám phá vật lý mang tính cách mạng của mình. Marie Winteler, lớn hơn cậu một tuổi, chuyển đến làm giáo viên ở Olsberg, Thụy Sĩ.[30]
Trong năm tân sinh viên khác cùng khóa và chương trình học tại trường bách khoa chỉ có duy nhất một nữ sinh là học trò người Serb 20 tuổi Mileva Marić. Trong những năm tiếp theo, hai người đã dành nhiều giờ để thảo luận về những mối quan tâm chung và tìm hiểu các chủ đề vật lý không được giảng dạy tại trường bách khoa. Trong những bức thư gửi Marić, Einstein thổ lộ rằng việc khám phá khoa học bên cạnh cô thú vị hơn nhiều so với việc đọc sách giáo khoa một mình. Dần dà, hai sinh viên này không chỉ trở thành bạn bè mà còn trở thành tình nhân của nhau.[33]
Các nhà sử học vật lý đã có bất đống trong vai trò của Marić đối với những phát hiện trong các công trình nghiên cứu trong "năm kỳ diệu" của Einstein. Một số bằng chứng chỉ ra rằng ông chịu ảnh hưởng từ những ý tưởng khoa học của bà,[33][34][35] nhưng cũng có những học giả nghi ngờ về mức độ quan trọng của ảnh hưởng của bà đối với tư tưởng của Einstein.[36][37][38][39]
Hôn nhân, quan hệ và con cái

Thư từ giữa Einstein and Marić, được phát hiện và xuất bản năm 1987, cho thấy họ có con gái đầu lòng tên là couple had a daughter named Lieserl chào đời năm 1902 trong lúc Marić đang thăm bố mẹ đẻ của cô ở Novi Sad. Khi Marić trở về Thụy Sĩ, đứa trẻ không còn bên cô nữa. Số phận của Lieserl vẫn chưa được làm rõ. Trong một bức thư viết vào tháng 9 năm 1903, Einstein cho rằng cô bé hoặc đã được đem cho làm con nuôi, hoặc đã qua đời vì bệnh ban đỏ khi còn nhỏ.[40][41]
Einstein và Marić kết hôn vào tháng 1 năm 1903. Tháng 5 năm 1904, người con trai đầu tiên của hai người, Hans Albert Einstein, chào đời tại Bern, Thụy Sĩ.[42] Con trai thứ của họ, Eduard, chào đời tại Zürich vào tháng 7 năm 1910.[43] Trong những lá thư Einstein gửi cho Marie Winteler vào các tháng trước khi Eduard chào đời, ông mô tả tình yêu dành cho vợ là "sai lầm" và tiếc nuối về "cuộc đời đã bỏ lỡ"—một cuộc đời mà ông hình dung mình lẽ ra đã được tận hưởng nếu kết hôn với Winteler thay vì vợ hiện tại: "Anh nghĩ về em với tình yêu chân thành trong từng phút giây rảnh rỗi, và anh đau khổ tột cùng—nỗi đau mà chỉ một người đàn ông mới có thể cảm nhận."[44]

Năm 1912, Einstein bắt đầu mối quan hệ với Elsa Löwenthal, vừa là em họ đời đầu bên phía mẹ, vừa là em họ đời hai bên phía cha của Einstein.[45][46][47] Khi Marić phát hiện ra sự không chung thủy của ông ngay sau khi cùng ông chuyển đến Berlin vào tháng 4 năm 1914, bà đã trở về Zürich, mang theo Hans Albert và Eduard.[33] Einstein và Marić được tòa án chấp thuận ly hôn vào ngày 14 tháng 2 năm 1919 với lý do hai người đã sống ly thân trong suốt năm năm.[48][49] Là một phần trong thỏa thuận ly hôn, Einstein đồng ý rằng nếu ông giành được giải Nobel, ông sẽ trao số tiền nhận được cho Marić; ông đoạt giải sau hai năm.[50]
Năm 1919, Einstein kết hôn với Elsa Löwenthal.[51][52] Năm 1923, ông bắt đầu mối quan hệ với thư ký Betty Neumann, cháu gái của người bạn thân Hans Mühsam.[53][54][55][56] Tuy nhiên, Löwenthal vẫn chung thủy với ông, và đã cùng ông di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1933. Năm 1935, bà được chẩn đoán mắc các vấn đề về tim và thận. Bà qua đời vào tháng 12 năm 1936.[57]
Một tập hợp các bức thư của Einstein, được Đại học Hebrew của Jerusalem công bố vào năm 2006,[58] đã hé lộ thêm một số người phụ nữ khác mà ông từng có quan hệ tình cảm. Trong số đó có Margarete Lebach (một phụ nữ Áo đã kết hôn),[59] Estella Katzenellenbogen (nữ chủ nhân giàu có của một cửa hàng hoa), Toni Mendel (một góa phụ Do Thái giàu sang) và Ethel Michanowski (một người trong giới thượng lưu Berlin); ông đã dành thời gian bên họ và nhận những món quà từ họ trong lúc vẫn đang chung sống với người vợ Löwenthal.[60][61] Sau khi góa vợ, Einstein có một mối quan hệ ngắn ngủi với Margarita Konenkova— được một số người cho là một điệp viên Nga. Chồng bà, nhà điêu khắc người Nga Sergei Konenkov, đã tạc bức tượng bán thân bằng đồng của Einstein tại Viện Nghiên cứu Cao cấp ở Princeton.[62][63]
Sau một đợt tâm thần cấp tính vào khoảng năm 20 tuổi, Eduard, con trai của Einstein, được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt.[64] Ông đã dành phần đời còn lại của mình để sống dưới sự chăm sóc của mẹ hoặc bị tạm thời lưu giữ tại các trại tâm thần. Sau khi bà qua đời, ông được đưa vào lưu trú vĩnh viễn tại Burghölzli, Bệnh viện Tâm thần Đại học ở Zurich.[65]
Trợ lý cho Cục Cấp bằng Sáng chế Thụy Sĩ (1902–1909)

Einstein tốt nghiệp Viện Công nghệ Liên bang vào năm 1900, được cấp chứng chỉ xác nhận rằng ông đủ năng lực giảng dạy môn toán và vật lý.[66] Việc ông được cấp quốc tịch Thụy Sĩ vào tháng 2 năm 1901[67] đã không kèm theo lệnh nhập ngũ; các nhà chức trách Thụy Sĩ đánh giá ông không đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện nghĩa vụ quân sự. Ông nhận thấy dường như ngay cả các trường học tại Thụy Sĩ cũng không cần đến mình, khi họ không hề trao cho ông một vị trí giảng dạy nào bất chấp việc ông đã dành gần hai năm để nộp đơn ứng tuyển. Cuối cùng, nhờ cha của Marcel Grossmann, ông đã nhận được một công việc làm trợ lý thẩm định viên bậc ba[68][69] tại Cục Cấp bằng Sáng chế Thụy Sĩ, đặt tại Bern.[70][71]
Các đơn xin cấp bằng sáng chế được Einstein thẩm định bao gồm những ý tưởng về máy phân loại sỏi và máy đánh chữ điện.[69] Cấp trên của ông hài lòng với công việc của ông và quyết định tuyển dụng ông vào biên chế chính thức vào năm 1903, mặc dù họ cho rằng ông chưa nên được thăng chức cho đến khi ông "nắm vững hoàn toàn công nghệ máy móc".[72] Có cơ sở để cho rằng quá trình làm việc tại Cục Cấp bằng Sáng chế đã có tác động nhất định đến việc ông xây dựng Thuyết Tương đối hẹp. Ông đã đi đến những ý tưởng mang tính cách mạng về không gian, thời gian và ánh sáng thông qua các thí nghiệm tư duy xoay quanh việc truyền tín hiệu và đồng bộ hóa đồng hồ—những vấn đề cũng xuất hiện trong một số phát minh được đệ trình lên ông để thẩm định.[73]
Năm 1902, Einstein cùng một số người bạn quen biết tại Bern thành lập một nhóm thường xuyên tổ chức các buổi gặp gỡ để thảo luận về khoa học và triết học. Tên gọi của nhóm, Hội nghiên cứu Olympia, là sự cách châm biếm vị thế thực tế của nhóm—vốn còn cách rất xa tầm vóc Olympia. Đôi khi Marić tham gia cùng họ, nhưng cô chỉ lắng nghe một cách chăm chú.[74] Các tác phẩm của Henri Poincaré, Ernst Mach và David Hume, được nhóm này thảo luận, đã ảnh hưởng sâu sắc đến ý tưởng và niềm tin của Einstein sau này.[75]
Các bài báo khoa học đầu tiên (1900–1905)

Bài báo đầu tiên của Einstein với tựa đề "Folgerungen aus den Kapillarität Erscheinungen" ("Các kết luận về hiện tượng mao dẫn"), trong đó ông đề xuất một mô hình lực hút giữa các phân tử mà sau này ông bác bỏ vì cho là vô giá trị, đã được đăng trên tạp chí Annalen der Physik.[76][77] Luận án tiến sĩ dài 24 trang của ông cũng đề cập đến một chủ đề trong vật lý phân tử. Với tiêu đề "Eine neue Bestimmung der Moleküldimensionen" ("Một cách mới để xác định kích thước phân tử")[78] và được đề tặng cho "Meinem Freunde Herr Dr. Marcel Grossmann gewidmet" (cho người bạn của ông là Marcel Grossman), luận án được hoàn thành vào ngày 30 tháng 4 năm 1905[79] và được Giáo sư Alfred Kleiner từ Đại học Zurich chấp thuận sau ba tháng (Einstein chính thức được trao bằng tiến sĩ vào ngày 15 tháng 1 năm 1906.)[79][80][81] Bốn công trình khác mà Einstein hoàn thành vào năm 1905—các bài báo nổi tiếng của ông về hiệu ứng quang điện, chuyển động Brown, thuyết tương đối hẹp, và sự tương đương khối lượng–năng lượng—đã khiến năm đó được tôn vinh như một năm kỳ diệu đối với vật lý, tương tự năm 1666 khi Isaac Newton có những khám phá vĩ đại nhất cuộc đời ông. Các ấn phẩm này đã gây ấn tượng sâu sắc với những người cùng thời với Einstein.[82]
Sự nghiệp học thuật tại châu Âu (1908–1933)
Năm 1908, giới khoa học coi ông là nhà khoa học hàng đầu, và Đại học Bern mời ông về làm giảng viên của trường. Các năm sau, ông viết đơn thôi việc tại cục bằng sáng chế và cũng thôi vị trí giảng viên để đảm nhiệm chức danh Privatdozent về vật lý [83] tại Đại học Zürich. Ông trở thành giáo sư thực thụ tại Đại học Karl-Ferdinand (nay là Đại học Charles) ở Praha năm 1911. Năm 1914, ông trở lại Đức sau khi được bổ nhiệm làm giám đốc của Viện Kaiser Wilhelm về vật lý (1914–1932)[84] và giáo sư tại Đại học Humboldt, Berlin, với một điều khoản đặc biệt trong bản hợp đồng cho phép ông được tự do trước những nghĩa vụ giảng dạy. Ông trở thành thành viên của Viện hàn lâm khoa học Phổ. Năm 1916, Einstein được bổ nhiệm làm chủ tịch của Hội Vật lý Đức (1916–1918).[85][86]
Trong năm 1911, dựa trên những suy luận có từ năm 1907 về nhu cầu mở rộng thuyết tương đối đặc biệt, ông đã tìm ra hiện tượng dịch chuyển đỏ do hấp dẫn và tính toán độ lệch của tia sáng phát ra từ ngôi sao ở xa sẽ bị lệch bởi trường hấp dẫn của Mặt Trời. Tuy vậy giá trị tiên đoán chỉ bằng một nửa so với giá trị chính xác sau khi ông tìm ra được phương trình trung tâm cho thuyết tương đối tổng quát (1915). Tiên đoán này được xác nhận bởi đoàn thám hiểm người Anh dẫn đầu bởi Arthur Eddington trong quá trình theo dõi nhật thực vào ngày 29 tháng 5 năm 1919. Các tờ báo quốc tế nhanh chóng đăng tải sự kiện này và Einstein trở nên nổi tiếng toàn thế giới. Ngày 7 tháng 11 năm 1919, tờ báo tin tức hàng đầu của Anh, The Times in một dòng chữ tựa đề trên trang nhất viết là: "Cách mạng trong Khoa học – Lý thuyết mới về Vũ trụ – Các tư tưởng của Newton đã bị lật nhào".[87] Sau đó, rất nhiều câu hỏi xuất hiện liệu các đo đạc có đủ chính xác để công nhận tiên đoán. Cuối cùng thì những dữ liệu đo đạc của Eddington là đủ tin cậy và đoàn thám hiểm của ông thực sự đã xác nhận tiên đoán của Einstein.[88]
Năm 1921, Einstein nhận giải Nobel Vật lý. Do thuyết tương đối hẹp vẫn còn đang tranh cãi, nên hội đồng giải Nobel đã trao giải cho ông vì những giải thích về hiện tượng điện quang và các đóng góp cho vật lý. Ông nhận huy chương Copley từ Hội Hoàng gia năm 1925.
Thăm nước ngoài
Einstein đến thành phố New York lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 4 năm 1921, ở đây ông nhận được sự chào đón trọng thể từ thị trưởng thành phố, sau đó là ba tuần thuyết giảng và gặp gỡ nhiều người. Ông trình bày một số bài giảng ở Đại học Columbia và Đại học Princeton, và ở Washington D.C. ông đi cùng các đại diện của Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia đến thăm Nhà Trắng. Trên đường trở lại châu Âu, nhà triết học và chính khách người Anh Viscount Haldane đã mời ông tới Luân Đôn, nơi ông gặp một vài nhà khoa học nổi tiếng, các chính trị gia và thực hiện một bài giảng ở trường Đại học King.[89][90]
Năm 1922, ông đi du lịch và có các buổi phát biểu trong chuyến hành trình 6 tháng đến các nước châu Á và Palestine. Các nước ông đến bao gồm Singapore, Sri Lanka (trước đây là Ceylon), và Nhật Bản, nơi ông có một loạt các bài giảng trước hàng nghìn người dân Nhật Bản. Ông cũng đến diện kiến Nhật hoàng và hoàng hậu tại Hoàng cung (Trong bức thư gửi cho hai con trai của mình, Einstein viết:"Trong số tất cả những dân tộc mà cha đã gặp, cha thích người Nhật nhất vì họ khiêm tốn, thông minh, hòa nhã và có khiếu tới nghệ thuật."[91]) Trên hành trình đến Nhật Bản, ông cũng ghé thăm Hồng Kông và Thượng Hải, đồng thời nghe tin mình được trao giải Nobel Vật lý.[8]
Khi trở về, ông cũng ghé qua Palestine, lúc đó là thuộc địa của Anh, trong 12 ngày và cũng là lần duy nhất viếng thăm vùng Trung Đông của ông. Nhà tiểu sử Walter Isaacson viết "Ông được chào đón bởi trong sự người Anh long trọng, như là một chính khách cao cấp hơn là một nhà vật lý lý thuyết", bao gồm một loạt pháo hiệu chào mừng khi đến dinh thự của toàn quyền Anh, Sir Herbert Samuel. Trong buổi tiếp, một đám đông đã vây quanh dinh thự để muốn trông thấy và nghe Einstein nói chuyện. Khi nói chuyện với thính giả, ông thể hiện niềm hạnh phúc của mình:[92]
"Đây là một trong những ngày ý nghĩa lớn nhất của cuộc đời tôi. Trước đây, tôi luôn cảm thấy tiếc nuối một cái gì đó trong bản sắc người Do Thái, và đó là sự lãng quên trong chính mỗi người. Ngày nay, tôi thật hạnh phúc khi chứng kiến người Do Thái đã nhận ra chính họ và hành động để cho thế giới công nhận như là một dân tộc".[92]
Ông cũng thăm Tây Ban Nha trước khi trở lại Đức. Năm 1925, ông viếng thăm Nam Mỹ bao gồm các thành phố Buenos Aires, Rio de Janeiro và Montevideo. Năm 1929, ông thăm Bỉ và hoàng gia Bỉ.[8]
Định cư tại Mỹ (1933)
Trong chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng 2 năm 1933, Einstein đã quyết định không trở lại nước Đức do Đảng Quốc xã lên nắm chính quyền dưới sự lãnh đạo của tân thủ tướng Đức Adolf Hitler.[93][94]
Trước đó ông đến thăm các trường đại học Hoa Kỳ vào đầu năm 1933 và chuyến thăm lần thứ ba kéo dài hai tháng ở Viện Công nghệ California ở Pasadena. Ông và bà Elsa trở lại Bỉ bằng tàu biển vào cuối tháng 3. Trong chuyến hành trình, ông nghe được tin ngôi nhà và chiếc thuyền buồm của ông ở Berlin đã bị Đảng viên Quốc Xã tịch thu. Khi đến Antwerp vào ngày 28 tháng 3, ông đã đến lãnh sự quán Đức và chính thức từ bỏ quốc tịch Đức.[95]
Đầu tháng 4, ông biết rằng chính phủ Đức đã thông qua các đạo luật ngăn cấm người Do Thái giữ bất kỳ một vị trí công việc nào, kể cả giảng viên tại các trường đại học.[96] Một tháng sau, các công trình nghiên cứu của Einstein nằm trong mục tiêu đốt phát của Đảng Quốc xã, và bộ trưởng tuyên truyền Joseph Goebbels công bố, "Trí tuệ Do Thái đã chết."[97]
Ông tạm trú tại Bỉ trong một vài tháng, trước khi chuyển sang Anh.[98][99] Trong một bức thư gửi cho người bạn là nhà vật lý Max Born, người cũng đã rời nước Đức và sống tại Anh, Einstein viết, "... Tôi phải thú nhận rằng mức độ tàn bạo và sự hèn nhát của họ khiến tôi phải bất ngờ."[97]
Tháng 10 năm 1933 ông cùng bà Elsa quay trở lại Hoa Kỳ và đảm nhiệm chức vụ giáo sư tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton tại Princeton, New Jersey. Trường này ban đầu đề nghị ông làm việc trong thời gian một năm rưỡi.[100][101] Ông vẫn chưa quyết định về tương lai của mình (có nhiều trường đại học ở châu Âu mời ông về nghiên cứu, bao gồm Oxford), nhưng đến năm 1935 ông quyết định ở lại Hoa Kỳ.[102][103] Ông làm việc tại Viện Princeton cho tới khi qua đời năm 1955.[104] Tại viện cũng có các nhà khoa học lớn khác như John von Neumann và Kurt Gödel), ông cũng sớm hình thành tình bạn thân thiết với Gödel. Họ hay đi dạo những quãng đường dài để cùng nhau thảo luận về công việc của nhau. Trợ lý cuối cùng của ông là nhà vật lý Bruria Kaufman. Ở viện nghiên cứu, ông tiếp tục tập trung phát triển thuyết trường thống nhất nhưng đã không thành công. Einstein cũng luôn luôn giữ vững quan điểm của mình khi cho rằng lý thuyết cơ học lượng tử là không đầy đủ và không chứa yếu tố bất định. "Chúa không chơi xúc xắc".[8]
Chiến tranh thế giới lần II và dự án Manhattan

Năm 1939, một nhóm các nhà khoa học Hungary bao gồm nhà vật lý Leó Szilárd cố gắng cảnh báo Washington rằng phe Quốc xã đang thực hiện các nghiên cứu bom nguyên tử. Tuy vậy cảnh báo của nhóm đã không gây sự chú ý đến giới chính trị.[105] Einstein và Szilárd, cùng những nhà khoa học tị nạn khác gồm Edward Teller và Eugene Wigner, "coi họ có trách nhiệm để cảnh báo người Mỹ khả năng của các nhà khoa học Đức có thể chế tạo thành công bom nguyên tử, và rằng Hitler rất quyết tâm có được vũ khí như vậy."[106][107] Hè 1939, vài tháng trước khi nổ ra chiến tranh ở châu Âu, Szilárd khuyên mời Einstein ký vào một bức thư gửi đến tổng thống Franklin D. Roosevelt để cảnh báo ông về khả năng này. Bức thư cũng đề cập đến chính phủ Hoa Kỳ nên chú ý tới và tham gia trực tiếp vào nghiên cứu urani cũng như chuỗi phản ứng dây chuyền.
Bức thư được cho là có khả năng "thúc đẩy chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho phép nghiên cứu vũ khí hạt nhân".[108] Tổng thống Roosevelt không thể gánh rủi ro khi Hitler sở hữu bom nguyên tử đầu tiên. Cùng với lá thư và buổi gặp của Einstein với Roosevelt, Hoa Kỳ tham gia vào cuộc "chạy đua" phát triển bom, tập trung vào đây rất nhiều nguồn lực tài chính, vật liệu, cơ sở cũng như các nhà khoa học lớn trong dự án Manhattan. Cuối cùng Hoa Kỳ trở thành nước duy nhất sở hữu bom nguyên tử trong thời gian chiến tranh thế giới lần II.
Đối với Einstein, "chiến tranh là căn bệnh... [và] ông kêu gọi chống lại chiến tranh." Nhưng năm 1933, sau khi Hitler trở thành lãnh đạo tối cao ở Đức, "ông đã khẩn thiết kêu gọi các nước phương Tây chuẩn bị chống lại sự tấn công của nước Đức."[109]:110 Năm 1954, một năm trước khi qua đời, Einstein kể cho người bạn già của mình, Linus Pauling, "Tôi đã gây ra một trong những lỗi lầm lớn nhất trong cuộc đời — đó là khi tôi ký vào bức thư gửi tổng thống Roosevelt khuyến nghị nên chế tạo bom nguyên tử; với một số biện hộ — sẽ nguy hiểm nếu người Đức có được nó..."[110]
Công dân Mỹ

Einstein trở thành công dân Mỹ năm 1940 sau khi quyết định nghiên cứu ở Princeton, ông thể hiện sự đánh giá cao của mình về "chế độ nhân tài" trong văn hóa Mỹ so với châu Âu. Ông, nhận ra rằng "con người ở đây có quyền nói và nghĩ những gì họ muốn", mà không gặp phải rào cản về mặt xã hội, và hệ quả là từng cá nhân được khuyến khích để trở nên sáng tạo hơn, một đặc điểm mà ông coi trọng từ nền giáo dục cơ sở.[111]
Là thành viên của "Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu" (NAACP) tại Princeton đấu tranh cho quyền công dân của người Mỹ gốc Phi, Einstein có trao đổi thư từ với nhà hoạt động dân chủ W. E. B. Du Bois, và năm 1946 Einstein gọi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ là "thứ bệnh tồi tệ nhất".[112][113] Ông nói, "Định kiến phân biệt chủng tộc không may đã trở thành truyền thống ở Mỹ lan truyền qua từng thế hệ mà không bị phê phán. Chỉ có thể khắc phục định kiến này bằng giáo dục và giác ngộ".[114]
Những năm cuối đời Einstein chuyển sang lối sống chay tịnh,[115] với lý giải "người ăn chay sống bằng hiệu ứng vật lý thuần túy trên khí chất cơ thể sẽ ảnh hưởng có lợi nhất đến đa số nhân loại".[116]
Sau khi Chaim Weizmann, vị tổng thống đầu tiên của Israel, qua đời tháng 11 năm 1952, thủ tướng David Ben-Gurion đã đề xuất Einstein làm tổng thống kế nhiệm, chủ yếu với vai trò danh dự.[117] Đại sứ Israel ở Washington, Abba Eban, giải thích lời đề nghị "thể hiện sự tôn trọng sâu sắc nhất của người dân Do Thái đối với ông".[106] Tuy thế Einstein đã từ chối lời đề nghị trong sự "xúc động sâu sắc":[118]
| “ | Kính gửi ngài đại sứ. Tôi rất cảm động về lời đề nghị trở thành tổng thống Israel nhân danh Thủ tướng Ben Gourion, nhưng cũng rất buồn vì phải từ chối lời đề nghị này. Do cả cuộc đời của tôi chỉ biết cống hiến cho khoa học nên tôi cho rằng mình không đủ tố chất và kinh nghiệm để điều hành công việc của một quốc gia. Hơn nữa, tuổi tác và sức khỏe là rào cản vô hình khó có thể giúp tôi hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng như vậy.
Thế nhưng cho dù có ở bất cứ nơi đâu, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tôi vẫn cố gắng làm tốt nhiệm vụ của một người Do Thái. Ước nguyện của tôi là muốn thấy một Nhà nước Do Thái chung sống hòa bình với các dân tộc Ả Rập khác. Tôi hy vọng đất nước Israel sẽ tìm được một người kế thừa xứng đáng cho cố Tổng thống Weizmann. [106][117][119] |
” |
Qua đời
Vào ngày 17 tháng 4 năm 1955, Albert Einstein bị chảy máu trong do vỡ động mạch chủ, mà trước đó đã được phẫu thuật bởi tiến sĩ Rudolph Nissen năm 1948.[120] Ông đã viết nháp chuẩn bị cho bài phát biểu trên truyền hình kỷ niệm ngày độc lập thứ bảy của nhà nước Israel khi trên đường đến bệnh viện, nhưng ông đã không kịp hoàn thành nó.[121] Einstein đã từ chối phẫu thuật, ông nói: "Tôi muốn đi khi tôi muốn. Thật vô vị để duy trì cuộc sống giả tạo. Tôi đã hoàn thành chia sẻ của mình, đã đến lúc phải đi. Tôi sẽ ra đi trong thanh thản."[122] Ông mất trong bệnh viện Princeton vào sáng sớm hôm sau ở tuổi 76, nơi ông vẫn tiếp tục làm việc đến hơi thở cuối cùng. Thi thể Einstein được hỏa táng và tro được rải khắp nơi quanh vùng của Viện nghiên cứu cao cấp, Princeton, New Jersey.[123][124] Trong quá trình khám nghiệm tử thi, nhà nghiên cứu bệnh học thuộc bệnh viện Princeton, Thomas Stoltz Harvey đã mổ lấy não của Einstein để bảo quản, mà không được sự cho phép của gia đình ông, với hy vọng rằng khoa học thần kinh trong tương lai có thể khám phá ra điều làm Einstein trở nên thông minh.[125]
Nhận xét về Einstein
Trong bài điếu văn, nhà vật lý hạt nhân Robert Oppenheimer tổng kết lại về Einstein: "Ông hầu như không có bản chất phức tạp và sự trần tục... Luôn luôn ở trong ông là sự thuần khiết tuyệt vời lúc như đứa trẻ lúc thì uyên thâm bướng bỉnh."[109]
Tại phần nói đầu của cuốn sách "Subtle is the Lord..." nhà vật lý và lịch sử khoa học Abraham Pais viết: Nếu được nói một câu ngắn gọn về tiểu sử Einstein, tôi có thể nói rằng "ông là con người tự do nhất mà tôi đã từng biết", và một câu về sự nghiệp khoa học của ông, tôi có thể viết "giỏi hơn bất kỳ ai trước hoặc sau ông, ông biết cách phát minh ra các nguyên lý bất biến và biết cách sử dụng các định luật thống kê".[126]
Sự nghiệp khoa học
Trong suốt cuộc đời ông, Einstein xuất bản rất nhiều sách và hàng trăm bài báo. Phần lớn về vật lý, nhưng một số ít bày tỏ quan điểm chính trị cánh tả về chủ nghĩa hòa bình, chủ nghĩa xã hội, và chủ nghĩa phục quốc Do thái.[10][127] Ngoài các nghiên cứu của cá nhân ông, ông còn hợp tác với nhiều nhà khoa học khác về các lĩnh vực khoa học như: Thống kê Bose–Einstein, máy làm lạnh Einstein và nhiều nghiên cứu khác.[128]
Vật lý những năm 1900
Các bài báo ban đầu của Einstein bắt nguồn từ sự cố gắng chứng minh rằng nguyên tử tồn tại và có kích thước hữu hạn khác không.[129] Tại thời điểm ông viết bài báo đầu tiên năm 1902, các nhà vật lý vẫn chưa chấp nhận hoàn toàn rằng nguyên tử tồn tại thực sự, mặc dù các nhà hóa học đã có những chứng cứ cụ thể từ các công trình của Antoine Lavoisier trước một thế kỷ. Lý do các nhà vật lý vẫn nghi ngờ là vì không có một lý thuyết nào ở thế kỷ XIX có thể giải thích đầy đủ tính chất của vật chất từ các tính chất của nguyên tử.
Ludwig Boltzmann là nhà vật lý thống kê hàng đầu của thế kỷ XIX, người đã đấu tranh nhiều năm để thuyết phục cộng đồng khoa học chấp nhận sự tồn tại của nguyên tử. Boltzmann đã đưa ra cách giải thích các định luật nhiệt động học, gợi ý rằng định luật tăng entropy có tính thống kê. Theo cách suy nghĩ của Boltzmann, entropy là logarit của số các trạng thái một hệ có được cấu hình bên trong. Lý do entropy tăng chỉ bởi vì xác suất để một hệ từ trạng thái đặc biệt với chỉ vài cấu hình bên trong chuyển sang hệ có nhiều trạng thái hơn là lớn. Trong khi cách giải thích thống kê của Boltzmann về entropy được công nhận rộng rãi ngày nay, và Einstein đã tin vào điều này, thì tại thời điểm đầu thế kỷ XX nó ít được mọi người để ý đến.
Ý tưởng thống kê được áp dụng thành công nhất khi giải thích tính chất của chất khí. James Clerk Maxwell, một nhà vật lý học hàng đầu khác, đã tìm ra định luật phân bố vận tốc của các nguyên tử trong chất khí, và ông đi đến một kết luận ngạc nhiên là tính nhớt của chất khí có thể độc lập với mật độ của nó. Về mặt trực giác, ma sát trong chất khí dường như bằng không khi mật độ đi về không, nhưng điều này không phải vậy, bởi vì đường di chuyển tự do trung bình của các nguyên tử trở lên rộng hơn tại mật độ thấp. Những thí nghiệm tiếp sau của Maxwell và vợ ông xác nhận tiên đoán kì lạ này. Các thí nghiệm khác trên chất khí và chân không, sử dụng một trống quay tách, cho thấy các nguyên tử trong chất khí có các vận tốc phân bố tuân theo định luật phân bố của Maxwell.
Bên cạnh những thành công này, cũng có những mâu thuẫn. Maxwell chú ý rằng tại nhiệt độ thấp, lý thuyết nguyên tử tiên đoán nhiệt dung riêng quá lớn. Trong cơ học thống kê cổ điển, mọi dao động điều hòa đơn giản (chuyển động kiểu lò xo) có nhiệt năng kBT ở nhiệt độ trung bình T, do vậy nhiệt dung riêng của mọi lò xo là hằng số BoltzmannkB. Một chất rắn đơn nguyên tử với Nnguyên tử có thể được xem là N quả cầu nhỏ tương ứng với N nguyên tử gắn vào mỗi vị trí nút mạng với 3N lò xo, do vậy nhiệt dung riêng của chất rắn là 3NkB, một kết quả của định luật Dulong–Petit. Định luật đúng cho nhiệt độ phòng, nhưng không đúng đối với nhiệt độ lạnh hơn. Tại gần 0K, nhiệt dung riêng bằng không.
Tương tự, một chất khí cấu thành từ phân tử hai nguyên tử có thể được xem là hai quả cầu gắn với nhau bởi một lò xo. Lò xo này có năng lượng kBT tại nhiệt độ cao, và cộng thêm vào một lượng nhiệt kB cho nhiệt dung riêng ở nhiệt độ khoảng 1000 độ, nhưng tại nhiệt độ thấp lượng nhiệt thêm này sẽ biến mất. Tại 0 độ, mọi nhiệt dung riêng do sự quay và rung động đều biến mất. Kết quả này mâu thuẫn với vật lý cổ điển.
Những mâu thuẫn rõ ràng nhất là trong lý thuyết về sóng ánh sáng. Các sóng liên tục trong một hộp được coi như vô số lò xo chuyển động, mỗi cái tương ứng với sóng đứng. Mỗi sóng đứng có một nhiệt dung riêng xác định kB, do đó tổng nhiệt dung riêng của sóng liên tục giống ánh sáng trở thành vô hạn trong cơ học cổ điển. Điều này rõ ràng là vi phạm đối với định luật bảo toàn năng lượng.
Những mâu thuẫn này dẫn đến nhiều người nói rằng nguyên tử không có tính vật lý, mà là toán học. Đáng chú ý trong số những người hoài nghi là Ernst Mach, người theo triết học thực chứng mà đã dẫn ông đến nhu cầu là nếu nguyên tử tồn tại, thì nó có thể nhìn thấy được.[130] Mach tin rằng những nguyên tử này là một giả tưởng hữu dụng, mà trong thực tế chúng được giả sử là nhỏ vô hạn, do vậy số Avogadro là vô hạn, hoặc rất lớn để coi như vô hạn, và kB là vô cùng nhỏ. Có những thí nghiệm có thể giải thích được bằng lý thuyết nguyên tử, nhưng lại có những thí nghiệm thì không thể giải thích được, và nó vẫn luôn là thế.
Einstein đã phản đối quan điểm này. Suốt sự nghiệp của mình, ông là một nhà duy thực. Ông tin rằng một lý thuyết phù hợp duy nhất có thể giải thích được mọi quan sát, lý thuyết này sẽ là một mô tả về cái thực sự đã diễn ra, và những điều ẩn sau nó. Từ đó ông cho rằng quan điểm về nguyên tử là đúng. Điều này dẫn ông đầu tiên đến với nhiệt động học, rồi đến vật lý thống kê, và lý thuyết nhiệt dung riêng của chất rắn.
Năm 1905, trong khi làm việc ở phòng cấp phát bằng sáng chế, tạp chí tiếng Đức hàng đầu Annalen der Physik đã xuất bản bốn bài báo của Einstein. Bốn bài báo sau này được coi là một cuộc cách mạng trong vật lý, và năm 1905 trở thành "năm kỳ diệu của Einstein".

Ngày 30 tháng 4 năm 1905, Einstein hoàn thành luận án của mình dưới sự hướng dẫn của Alfred Kleiner, giáo sư vật lý thực nghiệm. Einstein được trao bằng tiến sĩ ở Đại học Zurich. Luận án của ông với tên "Một cách mới xác định kích thước phân tử".[131]
Thăng giáng nhiệt động và vật lý thống kê
Các bài báo sớm nhất của Einstein đề cập đến nhiệt động học. Trong đó ông cố gắng giải thích các hiện tượng từ quan điểm thống kê của nguyên tử.[129]
Nghiên cứu của ông trong năm 1903 và 1904 tập trung vào hiệu ứng kích thước nguyên tử hữu hạn tác động đến hiện tượng tán xạ. Giống như nghiên cứu của Maxwell, sự hữu hạn của kích thước nguyên tử dẫn đến các hiệu ứng có thể quan sát được. Nghiên cứu này nằm trong vấn đề chính của vật lý ở thời đại ông đó là tìm cách quan sát và chứng minh nguyên tử tồn tại. Chúng cũng là nội dung chính trong luận án tiến sĩ của ông.[132]
Kết quả chính đầu tiên của ông trong lĩnh vực này là lý thuyết thăng giáng nhiệt động. Khi ở trạng thái cân bằng, một hệ có entropy cực đại, và theo cách hiểu của thống kê, nó chỉ có thăng giáng nhỏ. Einstein chỉ ra rằng thăng giáng thống kê của vật thể vĩ mô, có thể được hoàn toàn xác định bởi đạo hàm bậc hai của entropy.
Nghiên cứu cách kiểm tra quan hệ này, ông đã có đột phá lớn năm 1905. Ông nhận ra rằng lý thuyết này tiên đoán một hiệu ứng quan sát được cho một vật có thể di chuyển xung quanh tự do khi nằm trong môi trường nguyên tử hoạt động. Vì vật có vận tốc ngẫu nhiên do vậy nó có thể di chuyển ngẫu nhiên, giống như một nguyên tử đơn lẻ. Động năng trung bình của vật này là , và thời gian giảm thăng giáng có thể được xác định hoàn toàn bởi định luật ma sát.
Định luật ma sát cho quả cầu nhỏ trong chất lỏng nhớt giống nước được khám phá bởi George Stokes. Ông chỉ ra đối với vận tốc nhỏ, lực ma sát tỉ lệ với vận tốc, và bán kính của hạt. Quan hệ này được sử dụng để tính toán hạt chuyển động được một quãng đường bao nhiêu trong nước do chuyển động nhiệt ngẫu nhiên của nó, và Einstein chú ý là với những quả cầu kích thước khoảng một micron, chúng có thể di chuyển với vận tốc vài micron trong một giây. Chuyển động này đã được quan sát bởi nhà thực vật học Robert Brown dưới kính hiển vi, hay chuyển động Brown. Einstein đã đồng nhất chuyển động này với tiên đoán của lý thuyết ông đưa ra. Từ thăng giáng gây ra chuyển động Brown cũng chính là thăng giáng vận tốc của các nguyên tử, nên việc đo chính xác chuyển động Brown sử dụng lý thuyết của Einstein đã cho thấy hằng số Boltzmann là khác không và cho phép đo được số Avogadro.
Các thí nghiệm này được thực hiện vài năm sau đó, cho một ước lượng thô về số Avogadro phù hợp với ước lượng chính xác hơn của lý thuyết vật đen của Max Planck, và thí nghiệm đo điện tích của Robert Millikan.[133] Không như các phương pháp khác, đòi hỏi của Einstein cần rất ít các điều giả sử lý thuyết hay vật lý mới, vì đã trực tiếp đo chuyển động của nguyên tử qua các hạt nhìn thấy được.
Lý thuyết của Einstein về chuyển động Brown là bài báo đầu tiên về lĩnh vực vật lý thống kê. Nó thiết lập mối liên hệ giữa thăng giáng nhiệt động và sự tiêu tán năng lượng. Điều này được Einstein chỉ ra là đúng đối với thăng giáng độc lập thời gian, nhưng trong bài báo về chuyển động Brown ông chỉ ra rằng tỉ số nghỉ động học (dynamical relaxation rates) được tính toán từ cơ học cổ điển có thể được dùng là tỉ số nghỉ thống kê (statistical relaxation rates) để dẫn ra định luật khuếch tán động học. Những quan hệ này gọi là phương trình Einstein trong lý thuyết động học phân tử.
Lý thuyết về chuyển động Brown đã mở đầu năm kỳ diệu của Einstein, nhưng nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục các nhà vật lý chấp nhận thuyết nguyên tử.[129]
Thí nghiệm tưởng tượng và nguyên lý vật lý tiên nghiệm
Suy nghĩ của Einstein phải trải qua một sự thay đổi vào năm 1905. Ông đã hiểu rằng các tính chất lượng tử của ánh sáng có nghĩa là các phương trình Maxwell chỉ là lý thuyết xấp xỉ. Ông biết rằng các định luật mới có thể thay thế chúng, nhưng ông chưa biết làm thế nào để tìm ra các định luật này. Ông cảm thấy rằng ước đoán các mối quan hệ hình thức sẽ không đi đến đâu.
Thay vào đó ông quyết định tập trung vào các nguyên lý tiên nghiệm, chúng nói rằng các định luật vật lý có thể được hiểu là thỏa mãn trong những trường hợp rất rộng thậm chí trong những phạm vi mà chúng chưa từng được áp dụng hay kiểm nghiệm. Một ví dụ được các nhà vật lý chấp nhận rộng rãi của nguyên lý tiên nghiệm đó là tính bất biến quay (hay tính đối xứng quay, nói rằng các định luật vật lý là bất biến nếu chúng ta quay toàn bộ không gian chứa hệ theo một hướng khác). Nếu một lực mới được khám phá trong vật lý, lực này có thể lập tức được hiểu nó có tính bất biến quay mà không cần phải suy xét. Einstein đã hướng tìm các nguyên lý mới theo phương pháp bất biến này, để tìm ra các ý tưởng vật lý mới. Khi các nguyên lý cần tìm đã đủ, thì vật lý mới sẽ là lý thuyết phù hợp đơn giản nhất với các nguyên lý và các định luật đã được biết trước đó.
Nguyên lý tiên nghiệm tổng quát đầu tiên do Einstein tìm ra là nguyên lý tương đối,[134] theo đó chuyển động tịnh tiến đều không phân biệt được với trạng thái đứng im. Nguyên lý này được Hermann Minkowski mở rộng cho cả tính bất biến quay từ không gian vào không-thời gian. Những nguyên lý khác giả thiết bởi Einstein và sau đó mới được chứng minh là nguyên lý tương đương và nguyên lý bất biến đoạn nhiệt của số lượng tử. Một nguyên lý tổng quát khác của Einstein, còn gọi là nguyên lý Mach, vẫn còn là vấn đề đang được tranh luận giữa các nhà khoa học.
Việc sử dụng các nguyên lý tiên nghiệm là một phương pháp đặc biệt độc đáo trong các nghiên cứu đầu tiên của Einstein, và nó trở thành một công cụ tiêu chuẩn trong vật lý hiện đại.
Lý thuyết tương đối hẹp
Bài báo năm 1905 của ông về điện động lực học các vật thể chuyển động giới thiệu ra lý thuyết tương đối hẹp, cho thấy tốc độ ánh sáng độc lập với trạng thái chuyển động của quan sát viên đã đòi hỏi những sự thay đổi cơ bản về khái niệm của sự đồng thời. Những hề quả của kết luận này bao gồm sự giãn thời gian và co độ dài (theo hướng chuyển động) của vật thể chuyển động tương đối đối với hệ quy chiếu của quan sát viên. Bài báo này cũng bác bỏ sự tồn tại của ête (vật lý) - một trong những vấn đề lớn của thời đó.[135]
Trong bài báo về sự tương đương khối lượng-năng lượng, vấn đề này cũng đã được quan tâm tới trước đó bởi các khái niệm khác, Einstein đã rút ra từ các phương trình của thuyết tương đối hẹp hệ thức nổi tiếng trong thế kỷ XX: E = mc2.[136][137] Hệ thức này cho thấy một khối lượng nhỏ tương đương với một năng lượng khổng lồ và nó là cơ sở cho lý thuyết năng lượng hạt nhân.[138]
Nhiều năm sau đó, công trình của Einstein về thuyết tương đối đặc biệt năm 1905 vẫn còn là đề tài tranh cãi, nhưng ngay từ ban đầu nó đã được các nhà vật lý lớn ủng hộ, khởi đầu là Max Planck.[139][140]
Photon
Trong một bài báo năm 1905,[141] Einstein đã đặt ra một tiên đề đó là ánh sáng bao gồm các hạt rời rạc gọi là lượng tử. Lượng tử ánh sáng của Einstein hầu như bị các nhà vật lý bác bỏ khi ông mới giới thiệu ý tưởng này, trong đó có Max Planck và Niels Bohr. Ý tưởng này chỉ được chấp nhận rộng rãi vào năm 1919, nhờ những thí nghiệm chi tiết của Robert Millikan về hiệu ứng quang điện thực hiện vào năm 1914,[142] và phép đo sự tán xạ Compton của Arthur Compton.[143]
Bài báo của Einstein về các hạt ánh sáng hầu hết xuất phát từ các nghiên cứu về nhiệt động lực học. Ông không bị thúc đẩy bởi các thí nghiệm về hiệu ứng quang điện, mà không phù hợp với lý thuyết của ông trong vòng 50 năm sau. Einstein quan tâm đến entropy của ánh sáng tại nhiệt độ T, và phân nó thành hai phần bao gồm phần tần số thấp và phần tần số cao. Phần ánh sáng tần số cao được miêu tả bởi định luật Wien, có entropy giống hệt với entropy của các phân tử khí cổ điển.[143]
Từ entropy là số logarit của các trạng thái khả dĩ, Einstein kết luận là số các trạng thái của ánh sáng bước sóng ngắn trong một hộp với thể tích V bằng với số các trạng thái của một nhóm các hạt lượng tử trong cùng hộp. Do ông (không giống với những người khác) cảm thấy dễ chịu với cách giải thích thống kê, ông tin rằng tiên đề về ánh sáng được lượng tử hóa là một công cụ giải thích tính hợp lý cho entropy.
Điều này dẫn ông đến liên hệ Planck–Einstein là mỗi sóng với tần số f sẽ đồng hành với một tập hợp các photon, mỗi hạt ứng với năng lượng hf, trong đó h là hằng số Planck. Ông không thể bàn luận thêm, bởi vì Einstein không dám chắc các hạt liên hệ như thế nào với sóng. Nhưng ông đề nghị là ý tưởng này có thể giải thích các kết quả thí nghiệm khác, như hiệu ứng quang điện.[144]
Lượng tử hóa dao động nguyên tử
| Vật lý vật chất ngưng tụ |
|---|
| Pha · Chuyển pha * QCP |
Eiinstein tiếp tục nghiên cứu về cơ học lượng tử vào năm 1906, tìm cách giải thích sự dị thường của nhiệt dung riêng trong các chất rắn. Đây là ứng dụng đầu tiên của lý thuyết lượng tử vào một hệ cơ học. Từ định luật Planck về phân bố bức xạ điện từ không cho kết quả về giá trị nhiệt dung riêng vô hạn, cùng ý tưởng này có thể được áp dụng cho chất rắn để khắc phục vấn đề nhiệt dung riêng vô hạn trong các chất này. Einstein đã chỉ ra một mô hình đơn giản với giả thuyết là chuyển động của các nguyên tử trong chất rắn bị lượng tử hóa để giải thích tại sao nhiệt dung riêng của chất rắn lại trở về không khi tiến gần đến độ không tuyệt đối.[143]
Mô hình của Einstein coi mỗi nguyên tử được kết nối với một lò xo tưởng tượng. Thay vì liên kết tất cả các nguyên tử với nhau, mà sẽ dẫn đến các sóng đứng với các loại tần số khác nhau, Einstein tưởng tượng ra mỗi nguyên tử được gắn tại một điểm trong không gian bởi chỉ một lò xo. Điều này không đúng về mặt vật lý, nhưng lý thuyết vẫn tiên đoán giá trị hữu hạn nhiệt dung riêng là 3NkB, do số các dao động độc lập đều giống nhau.
Einstein từ đó giả sử là chuyển động trong mô hình này bị lượng tử hóa, tuân theo định luật Planck, do vậy mỗi chuyển động độc lập của lò xo có năng lượng bằng một số nguyên lần hf, trong đó f là tần số dao động. Với giả sử này, ông áp dụng phương pháp thống kê của Boltzmann để tính ra năng lượng trung bình của mỗi lò xo trong một khoảng thời gian. Kết quả thu được giống với kết quả của Planck cho ánh sáng: tại nhiệt độ mà kBT nhỏ hơn hf, chuyển động bị ngưng lại (đóng băng), và nhiệt dung riêng tiến về 0.
Và Einstein kết luận là cơ học lượng tử có thể giải quyết được các vấn đề lớn trong vật lý cổ điển, như tính dị thường của nhiệt dung riêng. Các hạt hàm ý trong công thức trên bây giờ được gọi là photon. Vì mọi lò xo trong lý thuyết của Einstein đều có độ cứng như nhau, nên chúng dao động như nhau tại cùng một nhiệt độ, và điều này dẫn đến tiên đoán là nhiệt dung riêng tiến về 0 theo hàm lũy thừa khi nhiệt độ giảm đi về 0K.
Nghiên cứu này là nền tảng của vật lý vật chất ngưng tụ sau này.
Nguyên lý đoạn nhiệt và các biến tác động góc
Trong thập niên 1910, lý thuyết lượng tử đã mở rộng phạm vi áp dụng cho nhiều hệ thống khác nhau. Sau khi Ernest Rutherford khám phá ra sự tồn tại các hạt nhân và đề xuất các electron có quỹ đạo quanh hạt nhân giống như quỹ đạo của các hành tinh, Niels Bohr đã áp dụng các tiên đề của cơ học lượng tử được Planck và Einstein đưa ra và phát triển để giải thích chuyển động của electron trong nguyên tử, và của bảng tuần hoàn các nguyên tố.
Einstein đã đóng góp vào những phát triển này bằng liên hệ chúng với các tư tưởng của Wilhelm Wien năm 1898. Wien đã đưa ra giả thuyết về "bất biến đoạn nhiệt" của trạng thái cân bằng nhiệt cho phép mọi bức xạ của vật đen tại các nhiệt độ khác nhau được dẫn ra từ 'định luật dịch chuyển Wien. Einstein năm 1911 đã chú ý đến là cùng nguyên lý đoạn nhiệt này cũng chỉ ra các đại lượng bị lượng tử hóa trong chuyển động cơ học bất kì phải là bất biến đoạn nhiệt. Arnold Sommerfeld đã đồng nhất bất biến đoạn nhiệt này là biến tác dụng của cơ học cổ điển. Định luật tác dụng thay đổi được bị lượng tử hóa là nguyên lý cơ sở của thuyết lượng tử khi nó được biết từ 1900 đến 1925. (hay lý thuyết lượng tử cổ điển)
Lưỡng tính sóng - hạt
Mặc dù cục cấp bằng sáng chế đã bổ nhiệm Einstein làm nhân viên kĩ thuật kiểm tra hạng hai năm 1906, nhưng ông không hề từ bỏ sự nghiệp khoa học của mình. Năm 1908, ông trở thành giảng viên thỉnh giảng (privatdozent) tại trường Đại học Bern.[145] Trong "über die Entwicklung unserer Anschauungen über das Wesen und die Konstitution der Strahlung" ("The Development of Our Views on the Composition and Essence of Radiation"), về sự lượng tử hóa của ánh sáng, và trong một bài báo đầu năm 1909, Einstein chỉ ra rằng lượng tử năng lượng của Planck phải có động lượng và có thể cư xử như các hạt điểm độc lập. Bài báo này đưa ra khái niệm photon (mặc dù Gilbert N. Lewis đặt tên gọi photon mãi tới năm 1926) và mở ra khái niệm lưỡng tính sóng-hạt trong cơ học lượng tử. Dựa trên ý tưởng của Planck và của Einstein về sóng có bản chất hạt, nhà vật lý Louis de Broglie đặt ra vấn đề ngược là hạt vật chất có bản chất sóng và khai sinh ra nguyên lý lưỡng tính sóng hạt của vật chất.[146]
Lý thuyết giới hạn trắng đục
Einstein đã quay trở lại vấn đề nhiễu loạn nhiệt động học, với suy nghĩ tìm cách giải quyết những sự thay đổi mật độ trong chất lỏng tại điểm giới hạn của nó. Thông thường, nhiễu loạn mật độ được khử bởi đạo hàm bậc hai của năng lượng tự do theo mật độ. Tại điểm giới hạn này, đạo hàm bằng không, dẫn đến những nhiễu loạn lớn. Hiệu ứng nhiễu loạn mật độ mà theo đó mọi bước sóng của ánh sáng bị tán xạ khi đi vào môi trường khác, làm cho chất lỏng nhìn trắng như sữa. Einstein liên hệ hiện tượng này với hiện tượng tán xạ Raleigh, mà xảy ra khi độ lớn nhiễu loạn nhỏ hơn bước sóng, và hiện tượng này đã giải thích hiện tượng tại sao bầu trời có màu xanh.[147]

Năng lượng điểm không
Trực giác vật lý của Einstein đã dẫn ông chú ý đến các năng lượng dao động Planck không thể có điểm không. Ông sửa lại giả thuyết Planck bằng cách cho trạng thái năng lượng thấp nhất của một đối tượng dao động bằng với 1⁄2hf, bằng một nửa khoảng năng lượng giữa hai mức. Sự thay đổi này được nghiên cứu cùng với Otto Stern, trên cơ sở của nhiệt động học phân tử hai nguyên tử mà có thể tách ra thành hai nguyên tử tự do.
Nguyên lý tương đương
Năm 1907, khi còn đang làm việc tại cuc bằng sáng chế, Einstein đã có cái mà ông gọi là "ý tưởng hạnh phúc nhất" trong đời ông. Ông nhận ra là nguyên lý tương đối có thể mở rộng sang trường hấp dẫn. Ông suy nghĩ về trường hợp thang máy chuyển động với gia tốc đều nhưng không phải đặt trong trường hấp dẫn, và ông nhận ra là nó không thể khác biệt so với trường hợp thang máy im trong trường hấp dẫn không thay đổi.[148] Ông áp dụng thuyết tương đối hẹp để thấy tốc độ của các đồng hồ tại đỉnh thang máy gia tốc lên trên sẽ nhanh hơn tốc độ của đồng hồ ở sàn thang máy. Ông kết luận là tốc độ của đồng hồ phụ thuộc vào vị trí của chúng trong trường hấp dẫn, và hiệu giữa hai tốc độ đồng hồ tỉ lệ với thế năng hấp dẫn theo xấp xỉ bậc nhất.
Mặc du sự xấp xỉ này là thô, nó cho phép ông tính được độ lệch của tia sáng do hấp dẫn. Điều này làm cho ông tin tưởng rằng lý thuyết vô hướng về hấp dẫn được đề xuất bởi Gunnar Nordström là không đúng. Nhưng giá trị thực cho độ lệch mà ông tính ra nhỏ đi 2 lần so với giá trị thực, do xấp xỉ ông sử dụng không còn thỏa mãn đối với các vật thể di chuyển gần vận tốc của ánh sáng. Khi Einstein hoàn thiện thuyết tương đối tổng quát, ông đã sửa lại thiếu sót này và tiên đoán được giá trị đúng của độ lệch tia sáng đi gần Mặt Trời.
Từ Praha, Einstein đăng một bài báo về các hiệu ứng của hấp dẫn tác động lên ánh sáng, đặc biệt là dịch chuyển đỏ do hấp dẫn và độ lệch ánh sáng do hấp dẫn. Bài báo đã thúc đẩy các nhà thiên văn học xác định độ lệch tia sáng trong quá trình quan sát nhật thực. [149] Nhà thiên văn người Đức Erwin Finlay-Freundlich đã công bố tiên đoán của Einstein ra toàn thế giới để cộng đồng các nhà khoa học được biết đến.[150]
Einstein đã suy nghĩ về bản chất trường hấp dẫn trong các năm 1909-1912, nghiên cứu các tính chất của chúng bằng các thí nghiệm tưởng tượng đơn giản. Trong đó có thí nghiệm về một cái đĩa quay. Einstein tưởng tượng ra một quan sát viên thực hiện các thí nghiệm trên một cái bàn quay. Ông chú ý rằng quan sát viên có thể đo được một giá trị khác cho hằng số toán học pi so với trong hình học Euclid. Lý do là vì bán kính của một đường tròn là không đổi do được đo với một cái thước không bị co độ dài, nhưng theo thuyết tương đối hẹp chu vi của đường tròn dường như lớn hơn do cái thước dùng để đo chu vi bị co ngắn lại.
Mặt khác Einstein tin tưởng rằng các định luật vật lý là cục bộ, được miêu tả bởi các hệ tọa độ cục bộ, ông kết luận rằng không thời gian có thể bị cong. Điều này dẫn ông đến nghiên cứu hình học Riemann, và hình thành lên ngôn ngữ của thuyết tương đối tổng quát.
Thuyết tương đối rộng
Năm 1912, Einstein trở lại Thụy Sĩ để nhận chức danh giáo sư tại nơi ông từng học, trường ETH. Khi ông trở lại Zurich, ngay lập tức ông đến thăm người bạn cùng lớp đại học ETH là Marcel Grossmann, bây giờ trở thành giáo sư toán học. Einstein đã hỏi Grossmann có thứ hình học miêu tả không gian cong không và ông ta đã giới thiệu cho ông hình học Riemann và tổng quát hơn là hình học vi phân. Theo đề nghị của nhà toán học người Ý Tullio Levi-Civita, Einstein bắt đầu khám phá ra sự hữu ích của nguyên lý hiệp biến tổng quát (cơ bản là sử dụng tenxơ) cho lý thuyết hấp dẫn mới của ông. Có lúc Einstein nghĩ rằng có một số sai lầm với cách tiếp cận này, nhưng sau đó ông đã quay trở lại với nó, và cuối năm 1915, ông đã công bố thuyết tương đối rộng theo dạng ngày nay của lý thuyết.[151] Lý thuyết này giải thích hấp dẫn là do sự cong của không thời gian do vật chất, ảnh hưởng tới chuyển động quán tính của các vật chất khác. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Liên minh trung tâm chỉ có thể được thực hiện tại các viện Hàn lâm của liên minh này, vì lý do an ninh quốc gia. Một vài nghiên cứu của Einstein đã đến được Vương quốc Anh và Hoa Kỳ thông qua nỗ lỗ lực của nhà vật lý người Áo Paul Ehrenfest và của các nhà vật lý người Hà Lan, đặc biệt là Nobel gia Hendrik Lorentz và Willem de Sitter của Đại học Leiden. Sau khi chiến tranh kết thúc, Einstein vẫn duy trì mối liên hệ của ông với trường Đại học Leiden, và nhận làm giáo sư đặc biệt cho trường này trong mười năm, từ 1920 đến 1930, Einstein thường xuyên đến Hà Lan để giảng dạy.[152]

Năm 1917, một vài nhà thiên văn học chấp nhận lời đề xuất năm 1911 của Einstein khi ông ở Praha. Đài quan sát núi Wilson ở California, Hoa Kỳ, công bố kết quả phân tích phổ của Mặt Trời cho thấy không có sự dịch chuyển đỏ do hấp dẫn.[154] Năm 1918, Đài quan sát Lick, cũng ở California, thông báo rằng rất khó có thể bác bỏ được tiên đoán của Einstein, mặc dù kết quả của họ không được công bố.[155]
Tuy nhiên vào tháng 5 năm 1919, một đội các nhà thiên văn học do Arthur Stanley Eddington dẫn đầu đã xác nhận rằng tiên đoán của Einstein về sự bẻ cong của tia sáng do hấp dẫn của Mặt Trời trong khi chụp các bức ảnh trong quá trình nhật thực tại Príncipe, một hòn đảo nằm phía tây châu Phi đồng thời với một đoàn thám hiểm ở Sobral, phía bắc Brasil.[150] Nobel gia Max Born tán dương thuyết tương đối tổng quát như là "một kỳ công lớn nhất của tư duy con người về tự nhiên";[156] và Nobel gia người Anh Paul Dirac nói "nó có thể là khám phá khoa học lớn nhất đã từng được phát hiện".[157] Các phương tiện thông tin quốc tế lan truyền khám phá này khiến Einstein trở nên nổi tiếng khắp thế giới.
Đã có những ý kiến cho rằng việc kiểm tra lại các bức ảnh của đoàn thám hiểm Eddington cho thấy độ lớn sai số của thí nghiệm bằng với kết quả thu được từ hiệu ứng mà Eddington đã đo để chứng minh, và đoàn thám hiểm người Anh năm 1962 đã kết luận là phương pháp đã đo là không đủ tin cậy.[87] Sự bẻ cong của tia sáng trong quá trình nhật thực đã được xác nhận bởi các quan sát chính xác hơn sau đó.[158] Về sau, nhiều thí nghiệm sau này đã xác nhận các tiên đoán của thuyết tương đối rộng.[151] Cùng với sự mới nổi tiếng của Einstein, nhiều nhà khoa học Đức thời đó đã có những động thái để chống lại Einstein cũng như các công trình của ông.[159][160]
Sóng hấp dẫn
Năm 1916, Einstein dự đoán tồn tại sóng hấp dẫn,[161][162] những gợn sóng hình thành từ độ cong của không thời gian mà lan truyền từ nguồn ra bên ngoài như các sóng, chúng mang theo năng lượng dưới dạng bức xạ hấp dẫn. Sự tồn tại của sóng hấp dẫn theo khuôn khổ của thuyết tương đối tổng quát là do bất biến Lorentz đưa đến hệ quả của vận tốc lan truyền hữu hạn đối với các tương tác vật lý mà hấp dẫn tham gia. Ngược lại, sóng hấp dẫn không thể tồn tại trong lý thuyết hấp dẫn của Newton, khi cho rằng tương tác hấp dẫn lan truyền một cách tức thì hay với vận tốc lớn vô hạn.
Sự phát hiện ra sóng hấp dẫn lần đầu tiên, một cách gián tiếp, đến từ những quan sát trong thập niên 1970 về cặp sao neutron quay trên quỹ đạo hẹp quanh nhau, PSR B1913+16.[163] Quan sát cho thấy chu kỳ quỹ đạo của hệ giảm dần chứng tỏ hệ đang phát ra sóng hấp dẫn đúng như miêu tả của thuyết tương đối rộng.[163][164] Dự đoán của Einstein đã được xác nhận vào ngày 11 tháng 2 năm 2016, khi các nhà khoa học thuộc nhóm LIGO công bố đã đo được trực tiếp sóng hấp dẫn lần đầu tiên,[165] vào ngày 14 tháng 9 năm 2015, gần một trăm năm sau ngày ông đăng bài báo về sóng hấp dẫn.[163][166][167][168][169]
Vũ trụ học
Năm 1917, Einstein đã áp dụng thuyết tương đối rộng cho mô hình cấu trúc của vũ trụ trên toàn bộ. Theo dòng suy nghĩ đương thời, ông muốn vũ trụ là vĩnh hằng và bất biến, nhưng trong thuyết mới của ông, sau một thời gian dài lực hấp dẫn có thể hút vật chất về nhau dẫn tới vũ trụ co lại. Để sửa điều này, Einstein đã thay đổi nhỏ thuyết tương đối tổng quát bằng cách đưa ra một khái niệm mới, hằng số vũ trụ học. Với một hằng số vũ trụ dương, cân bằng chống lại lực hấp dẫn, vũ trụ có thể là quả cầu tĩnh vĩnh hằng[170]
Einstein tin tưởng rằng một vũ trụ tĩnh có tính đối xứng cầu sẽ phù hợp về mặt triết học, bởi vì nó tuân theo nguyên lý Mach. Ông đã chỉ ra rằng thuyết tương đối tổng quát gắn chặt với nguyên lý Mach trong trường hợp mở rộng hiệu ứng kéo hệ quy chiếu bằng trường hấp dẫn từ, nhưng ông biết rằng ý tưởng của Mach sẽ không đúng nếu vũ trụ cứ mở rộng ra vô hạn. Trong một vũ trụ đóng, ông tin rằng nguyên lý Mach sẽ được thỏa mãn.
Nguyên lý Mach cũng đã gây ra rất nhiều tranh cãi trong nhiều năm.

Thuyết lượng tử hiện đại
Năm 1917, tại đỉnh cao của công việc nghiên cứu thuyết tương đối, Einstein xuất bản một bài báo trong ''Physikalische Zeitschrift đề xuất khả năng tồn tại phát xạ kích thích, một quá trình vật lý giúp hiện thực được maser và laser.[172] Bài báo này chỉ ra rằng tính thống kê của sự hấp thụ và bức xạ ánh sáng chỉ có thể phù hợp với định luật phân bố Planck khi sự bức xạ của ánh sáng trong một chế độ với n photon sẽ gần với tính thống kê hơn so với sự bức xạ của ánh sáng trong chế độ không có photon. Bài báo này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển sau này của cơ học lượng tử, bởi vì nó là bài báo đầu tiên chỉ ra tính thống kê của sự chuyển dịch trạng thái nguyên tử tuân theo những định luật đơn giản. Einstein đã phát hiện ra nghiên cứu của Louis de Broglie, và đã ủng hộ những ý tưởng của ông, khi Einstein lần đầu tiên nhận được những ý tưởng phác thảo này. Một bài báo lớn khác trong thời kì này, Einstein đã viết ra phương trình sóng cho các sóng de Broglie, trong đó Einstein đã đề xuất từ phương trình Hamilton–Jacobi của cơ học. Bài báo này đã khích lệ các nghiên cứu của Schrödinger năm 1926.
Thống kê Bose–Einstein
Năm 1924, Einstein nhận được một miêu tả về mô hình thống kê từ nhà vật lý người Ấn Độ Satyendra Nath Bose, trên cơ sở một phương pháp đếm với giả sử ánh sáng có thể được hiểu là khí của các hạt không thể phân biệt được. Einstein chú ý tới rằng thống kê của Bose có thể áp dụng cho một số nguyên tử có tính chất tương tự các hạt ánh sáng được đề xuất, và ông gửi bản dịch bài báo của Bose tới tạp chí Zeitschrift für Physik. Einstein cũng tự viết các bài báo miêu tả mô hình thống kê này và những hệ quả của nó, bao gồm hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein mà trong một số trường hợp đặc biệt có thể xuất hiện tại nhiệt độ rất thấp..[7] Cho đến tận năm 1995, vật chất ngưng tụ lần đầu tiên đã được tạo ra bằng thực nghiệm bởi Eric Allin Cornell và Carl Wieman nhờ sử dụng các thiết bị siêu lạnh được lắp đặt tại NIST–phòng thí nghiệm JILA tại Đại học Colorado ở Boulder.[173] Thống kê Bose-Einstein bây giờ được sử dụng để miêu tả hành xử của những hạt có spin nguyên, các boson. Những phác thảo của Einstein cho nghiên cứu này có thể xem tại "Einstein Archive" trong thư viện của đại học Leiden.[174]
Giả tenxơ năng lượng động lượng
Thuyết tương đối rộng bao gồm một không thời gian động lực, do vậy nó rất khó để tìm cách thống nhất các đại lượng bảo toàn năng lượng và động lượng. Định lý Noether cho phép những đại lượng được xác định từ hàm Lagrangian với bất biến tịnh tiến, nhưng hiệp biến tổng quát làm cho bất biến tịnh tiến trở thành một phần của đối xứng gauge. Tenxơ ứng suất - năng lượng trong phương trình trường Einstein không chứa năng lượng trường hấp dẫn, bởi vì theo nguyên lý tương đương bằng việc lựa chọn hệ quy chiếu cục bộ thích hợp, trường hấp dẫn sẽ biết mất. Năng lượng và động lượng bao hàm cả năng lượng hấp dẫn được dẫn ra từ thuyết tương đối rộng theo định lý Noether không phải là một tenxơ thực vì lý do như vậy.
Einstein lập luận rằng điều này là đúng với những lý do cơ bản, bởi vì trường hấp dẫn có thể xuất hiện hoặc biến mất bằng cách chọn các tọa độ. Ông ủng hộ rằng giả tenxơ không hiệp biến năng lượng động lượng thực chất là cách miêu tả tốt nhất sự phân bố năng lượng và động lượng trong một trường hấp dẫn.[175][176] Cách tiếp cận này đã được phát triển bởi Lev Landau và Evgeny Lifshitz,[177] và những người khác, và đã trở thành một tiêu chuẩn.
Việc sử dụng các đối tượng không-hiệp biến như các giả tenxơ đã bị phê phán nhiều bởi Erwin Schrödinger và những người khác năm 1917.
Thuyết trường thống nhất
Tiếp theo nghiên cứu của ông về thuyết tương đối tổng quát, Einstein bắt tay vào chuỗi những cố gắng để tổng quát hóa lý thuyết hình học của ông về hấp dẫn, cho phép kết hợp được với tương tác điện từ. Năm 1950, ông miêu tả "thuyết trường thống nhất" của ông trong tạp chí Scientific American với tiêu đề "Về lý thuyết tổng quát của hấp dẫn".[178] Mặc dù ông tiếp tục được ca ngợi cho các công trình của ông, Einstein đã dần dần bị đơn độc trong con đường nghiên cứu thuyết thống nhất này, và những nỗ lực của ông đã hoàn toàn bị thất bại.
Trong việc theo đuổi một lý thuyết thống nhất các lực cơ bản của tự nhiên, Einstein đã bỏ qua một số hướng phát triển chính của vật lý thời đó, điển hình nhất là việc nghiên cứu các lực hạt nhân mạnh và lực hạt nhân yếu, chúng chưa được hiểu triệt để cho đến tận nhiều năm sau khi ông mất. Mặt khác, các xu hướng vật lý lại chủ yếu bỏ qua các phương pháp tiếp cận của ông đối với lý thuyết thống nhất; với cơ học lượng tử là khuôn khổ chính, lý thuyết mà ông không chấp nhận hoàn toàn về tính mô tả thực tại của nó. Giấc mơ của Einstein để thống nhất mọi định luật vật lý khác với hấp dẫn đã thôi thúc một cuộc tìm kiếm hiện đại cho một lý thuyết của mọi vật và đặc biệt là thuyết dây, trong đấy các trường hình học được kết hợp với lý thuyết trường lượng tử hay hấp dẫn lượng tử.
Lỗ sâu
Trong nghiên cứu thuyết trường thống nhất, Einstein đã hợp tác với các nhà khoa học khác để đưa ra mô hình về một lỗ sâu.[179] Mục đích của ông là thiết lập mô hình các hạt cơ bản với các tích (điện tích) của chúng như là một nghiệm của phương trình trường hấp dẫn, được đăng trong một bài báo với tiêu đề "Liệu trường hấp dẫn đóng một vai trò quan trọng trong cấu tạo của các hạt cơ bản?". Những nghiệm này cắt và dán các lỗ đen Schwarzschild để tạo ra một cầu nối giữa hai miền không gian.
Nếu cuối một lỗ sâu mang điện tích dương, thì đầu kia của lỗ sâu phải mang điện tích âm. Những tính chất này dẫn Einstein đến sự tin tưởng rằng cặp các hạt và phản hạt có thể được miêu tả theo cách này.
Lý thuyết Einstein–Cartan
Để có thể kết hợp spin của các hạt điểm vào trong thuyết tương đối tổng quát, liên thông aphin cần được tổng quát hóa để bao gồm được phần phản xứng, gọi là tenxơ xoắn. Năm 1922 nhà toán học Élie Cartan lần đầu tiên tiếp cận với đề xuất này[180] và tiếp tục mở rộng lý thuyết trong các năm sau.[181] Einstein cũng tham gia vào phát triển lý thuyết này vào năm 1928 với những nỗ lực không thành công khi sử dụng tenxơ xoắn để miêu tả trường điện từ trong thuyết trường thống nhất của ông.[182]
Nghịch lý Einstein–Podolsky–Rosen
Năm 1935, Einstein trở lại với cơ học lượng tử. Ông đã xét sự ảnh hưởng như thế nào của một hạt trong hệ hai hạt vướng víu với nhau đối với hạt kia. Ông đưa ra cùng với các cộng sự của ông rằng, bằng cách thực hiện các phép đo khác nhau trên một hạt ở rất xa, hoặc là về vị trí hoặc về động lượng, và các tính chất của hạt đối tác trong cặp vướng víu này có thể được khám phá mà không làm ảnh hưởng đến trạng thái của chính nó.
Einstein do vậy đã sử dụng tính thực tại cục bộ để kết luận là những hạt khác có những tính chất này đã được định sẵn. Nguyên lý ông đề xuất là nếu có thể xác định được câu trả lời về vị trí hay động lượng qua phép đo một hạt đối tác, mà không ảnh hưởng đến hạt kia, thì các hạt thực sự có giá trị chính xác về vị trí hoặc động lượng, điều này mâu thuẫn với nguyên lý bất định Heisenberg.
Nguyên lý này được rút ra từ quá trình phản bác của Einstein về cơ học lượng tử. Là một nguyên lý vật lý, nó đã được chứng minh là không tương thích với các kết quả thí nghiệm.
Các phương trình chuyển động
Thuyết tương đối rộng có hai định luật cơ bản; - phương trình trường Einstein miêu tả sự cong của không gian, và phương trình trắc địa miêu tả sự di chuyển của các hạt trong trường hấp dẫn.
Do các phương trình trong thuyết tương đôi tổng quát là phi tuyến, một lượng năng lượng xác định một trường hấp dẫn thuần túy, giống như hố đen, sẽ di chuyển trên một quỹ đạo được xác định bởi chính phương trình trường Einstein, không cần tới các định luật mới. Vì thế EInstein đề xuất rằng quỹ đạo của một nghiệm kì dị, giống như hố đen, có thể được xác định là một đường trắc địa từ chính thuyết tương đối rộng.
Phương trình này được Einstein, Infeld và Hoffmann viết ra cho các vật thể hạt điểm không có mô men động lượng, và bởi Roy Kerr cho các vật thể quay.
Cộng tác với những nhà khoa học khác
Ngoài sự cộng tác trong một thời gian dài với các nhà khoa học Leopold Infeld, Nathan Rosen, Peter Bergmann và những người khác, Einstein cũng từng cộng tác trong một thời gian ngắn với nhiều nhà khoa học.
Tranh luận Bohr-Einstein

Tranh luận Bohr-Einstein là chuỗi các sự kiện phê bình giữa hai trong số những người sáng lập ra cơ học lượng tử là Albert Einstein và Niels Bohr về bản chất thực tại của lý thuyết này. Tranh luận của hai người không chỉ có ý nghĩa trong triết học của khoa học mà còn là động lực để các nhà lý thuyết và thực nghiệm lượng tử khám phá ra những tính chất mới đồng thời bổ sung cho nền tảng lý thuyết.[183][184][185]
Thí nghiệm Einstein-de Haas
Einstein và De Haas đã chứng tỏ rằng sự từ hóa là do chuyển động của các electron mà ngày nay được biết là spin. Để chỉ ra điều này, họ đảo ngược sự từ hóa trong một thanh thép treo trên một con lắc xoắn. Hai người quan sát thấy rằng thanh thép bị quay đi một góc, bởi vì mô men động lượng của electron bị thay đổi khi thay đổi sự từ hóa. Thí nghiệm này cần sự tinh tế, bởi vì mô men động lượng gắn với electron là nhỏ, nhưng nó cũng đủ để chứng minh chuyển động của electron vì một lý do nào đó ảnh hưởng đến sự từ hóa.[186][187]
Mô hình khí Schrödinger
Einstein gợi ý cho Erwin Schrödinger rằng ông có thể suy lại được sự thống kê của khí Bose–Einstein bằng xét đến một hộp. Sau đó mỗi chuyển động lượng tử khả dĩ của một hạt trong một hộp được gắn với một dao động tử điều hòa độc lập. Lượng tử hóa những dao động tử này, mỗi mức có một số nguyên tương ứng, sẽ là số các hạt trong hộp.
Phương pháp này là một phần của lượng tử hóa chính tắc, nhưng nó đi ngược lại cơ học lượng tử hiện đại. Erwin Schrödinger áp dụng điều này để dẫn ra các tính chất nhiệt động của khí lý tưởng bán cổ điển. Schrödinger đã đề nghị Einstein để đưa thêm ông vào đồng tác giả, nhưng Einstein đã từ chối lời mời này.[188]
Tình yêu âm nhạc
Einstein bắt đầu cảm thụ âm nhạc từ khi còn nhỏ tuổi. Mẹ ông chơi dương cầm khá giỏi và muốn ông học đàn vĩ cầm, không chỉ để truyền dẫn cho ông niềm yêu thích âm nhạc mà còn giúp ông hòa nhập với nền văn hóa Đức. Theo nhạc trưởng Leon Botstein, Einstein có thể đã bắt đầu chơi nhạc từ lúc 5 tuổi nhưng chưa thể hiện niềm thích thú với âm nhạc khi đó.[189]
Tuy nhiên, bước sang tuổi 13, ông được học bản sonata vĩ cầm của Mozart. "Einstein trở nên yêu thích" âm nhạc Mozart, Botstein viết, và học chơi vĩ cầm một cách tự nguyện hơn. Theo Einstein, ông tự học chơi đàn bằng cách "thực hành có hệ thống", và nói rằng "say mê là một người thầy tốt hơn ý thức trách nhiệm."[189] Khi 17 tuổi, ông trình bày bản sonata vĩ cầm của Beethoven trong một kỳ kiểm tra âm nhạc ở Aarau, và giáo viên chấm điểm đã nhận xét khi ông kết thúc là "xuất sắc và thể hiện nội dung tuyệt vời." Điều gây ấn tượng cho người giáo viên là, theo Botstein, Einstein "thể hiện sâu sắc tình yêu âm nhạc, một phẩm chất vẫn còn đang được hình thành. Âm nhạc có một ý nghĩa kỳ lạ đối với sinh viên này."[189]
Botstein lưu ý rằng âm nhạc đảm nhận một vai trò quan trọng và lâu dài trong cuộc sống kể từ thời gian đó của Einstein. Mặc dù chưa lúc nào ông nghĩ rằng sẽ theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, nhưng ông thường tham gia chơi nhạc thính phòng với một vài nghệ sĩ, thường trình diễn cho nhóm vài người bạn. Âm nhạc thính phòng là một phần trong cuộc sống của ông khi còn ở Bern, Zurich, và Berlin, nơi ông chơi nhạc cùng Max Planck và những người khác. Năm 1931, trong thời gian đến Viện Công nghệ California, ông đến thăm gia đình Zoellner ở Los Angeles và chơi một số bản nhạc của Beethoven và Mozart cùng với các thành viên của nhóm tứ tấu Zoellner. Einstein sau đó trao cho người đại diện gia đình một bức ảnh lưu niệm chụp ông cùng với chữ ký.[190][191] Âm nhạc không chỉ là niềm vui thích mà còn giúp ông trong công việc. Bà Elsa nói "âm nhạc giúp ông khi đang suy nghĩ về các lý thuyết. Ông mải mê nghiên cứu, quay trở ra giải trí bằng đánh vài đoạn hợp âm piano, rồi tiếp tục trở lại công việc".[192]
Quan điểm chính trị
Einstein là người ủng hộ chủ nghĩa xã hội và phê phán chủ nghĩa tư bản.[193][194] Ông phản đối phong trào Quốc xã đang tăng lúc bấy giờ và sau đó cố gắng lên tiếng giảm bớt sự náo động của việc hình thành nước Israel. Fred Jerome trong quyển Quan điểm của Einstein về nhà nước Israel và chủ nghĩa phục quốc Do Thái cho rằng Einstein là một nhà văn hóa phục quốc Do Thái, người ủng hộ ý tưởng về một tổ quốc Do Thái nhưng phản đối việc hình thành một nhà nước Do Thái ở Palestine "với đường biên giới, quân đội, và một hệ thống pháp quyền riêng." Thay vào đó, ông ủng hộ một nhà nước liên bang gồm 2 quốc gia với "cơ cấu chức năng liên tục, hỗn hợp, quản trị, kinh tế, và xã hội."[195][196]
Trong cuộc Cách mạng tháng 11 ở Đức, Einstein đã ký vào một kháng nghị làm tiền đề cho đại hội tự do và dân chủ toàn quốc,[197][198] được công bố ở tờ tin tức Berliner Tageblatt vào ngày 16 tháng 11 năm 1918[199] và ông trở thành Đảng viên của Đảng Dân chủ Đức. Sau Thế chiến thứ II, khi sự thù hằn giữa các nước đồng minh cũ trở nên căng thẳng, Einstein viết, "Tôi không biết Chiến tranh Thế giới lần thứ III người ta sẽ dùng vũ khí gì, nhưng tôi có thể nói với bạn con người có thể sử dụng vũ khí gì ở Chiến tranh Thế giới thứ IV - đá![200] Other versions of the quote exist.</ref> (Einstein 1949) Cùng với With Albert Schweitzer và Bertrand Russell, Einstein đã vận động để dừng việc thử nghiệm hạt nhân và bom trong tương lai. Trước lúc mất, Einstein đã ký vào bản tuyên ngôn Russell–Einstein, mà sau đó đã dẫn tới hội nghị Pugwash về Khoa học và Hòa bình Thế giới.[201]
Einstein là thành viên của nhiều nhóm quyền công dân, bao gồm đại hội Princeton của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP). khi W. E. B. Du Bois bị cáo buộc làm gián điệp Cộng sản, Einstein đã tình nguyện làm nhân chứng, và cáo buộc đã được bác bỏ ngay sau đó. Tình bạn của Einstein với nhà hoạt động Paul Robeson, người cùng với ông giữ chức đồng chủ tịch của Cuộc vận động người Mỹ chấm dứt kiểu hành hình Lynch phân biệt đối xử với người da đen, kéo dài đến 20 năm.[202]
Einstein từng nói "Chính trị là nhất thời, còn phương trình là vĩnh cửu."[203] Ông đã từ chối lời đề nghị làm tổng thống Israel vào năm 1952.[204]
Quan điểm tôn giáo
Trên nghi vấn của quan điểm khoa học (quyết định luận) dẫn tới câu hỏi về lập trường của Einstein về quyết định luận thần học, liệu ông có tin vào Chúa, hay vào một vị thần nào đó hay không. Năm 1929, Einstein đã nói với giáo sĩ Do Thái Herbert S. Goldstein rằng "Tôi tin vào Chúa của Spinoza, người mà biểu lộ chính mình trong nguyên lý hài hòa của thế giới, không phải là một vị Chúa có số mệnh và hành động của một con người. "[205] Trong một bức thư năm 1954, ông viết, "Tôi không tin vào một Chúa nhân cách hóa và tôi không bao giờ phủ định điều này và tôi đã biểu thị điều đó một cách rõ ràng."[206] Trong một bức thư gửi triết gia Erik Gutkind, Einstein nói rõ, "Danh từ Chúa đối với tôi không gì khác ngoài sự thể hiện và là sản phẩm của sự yếu đuối của loài người, Kinh thánh là tập hợp những điều đáng kính, nhưng vẫn còn nguyên sơ, huyền ảo tuy nhiên khá là ngây ngô."[207]
Báo chí đã cho đăng tải lặp đi lặp lại để thể hiện Albert Einstein là một người "khiêu khích" tôn giáo với phát biểu như sau của ông:
| “ | Đúng là, dĩ nhiên, một hiểu lầm về những gì bạn được đọc về nhận thức tôn giáo của tôi, một hiểu lầm được lặp lại một cách có hệ thống. Tôi không tin vào một vị Chúa nhân cách hóa và tôi không bao giờ phủ định điều này và tôi đã biểu thị điều đó một cách rõ ràng. Nếu có thứ gì đối với tôi được gọi là tôn giáo thì đó là sự thán phục vô tận dành cho cấu trúc thế giới mà khoa học của chúng ta có thể khám phá ra. | ” |
Nhận xết về tôn giáo trên tờ New York Times số ra 09.11 năm 1930 như sau:[208]
| “ | Các thiên tài tôn giáo ở mọi lứa tuổi được phân biệt bởi một cảm giác tôn giáo, không liên quan tới giáo điều và không có Thiên Chúa nào được hình thành trong hình ảnh của con người; sao cho không có các nhà thờ và các giáo lý trung tâm của chúng được dựng lên. Do đó chính những kẻ dị giáo ở mọi thời đại là nơi mà chúng ta tìm thấy những người đàn ông có cảm giác tôn giáo cao nhất và trong nhiều trường hợp được các người đương thời coi là những người vô thần, đôi khi cũng như các vị thánh. Nhìn vào ánh sáng này, những người như Democritus, Francis of Assisi, và Spinoza gần giống nhau.
Cảm giác tôn giáo vũ trụ có thể được truyền đạt từ người này sang người khác như thế nào, nếu nó có thể làm phát sinh ra một khái niệm nào đó về một Thiên Chúa và không có thần học? Theo quan điểm của tôi, đây là chức năng quan trọng nhất của nghệ thuật và khoa học để đánh thức cảm giác này và giữ nó sống động trong những người dễ tiếp thu nó. |
” |
Giải thưởng
Trong cuộc đời cống hiến nghiên cứu khoa học, Albert Einstein đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế. Tên của ông cũng được lấy để đặt cho nhiều giải thưởng.
- Giải thưởng đoạt được
- Giải Nobel Vật lý 1921[209]
- Huy chương Matteucci 1921[210]
- Huy chương Copley 1925[211]
- Huy chương Max Planck đầu tiên 1929[212]
- The Franklin Institute Awards 1935: Albert Einstein
- Giải thưởng mang tên ông
- Giải thưởng Albert Einstein do Lewis and Rosa Strauss Memorial Fund thành lập năm 1951 nhằm trao cho các công trình vật lý lý thuyết nổi bật trong khoa học tự nhiên.
- Huy chương Albert Einstein do Hội Albert Einstein lập 1979 trao hàng năm cho những người có cống hiến xuất sắc liên quan tới công trình của Albert Einstein
- Giải Einstein của Hội Vật lý Hoa Kỳ thành lập năm 2003 trao 2 năm một lần cho những người có thành tựu nổi bật trong lãnh vực tương tác hấp dẫn.
- Giải Khoa học thế giới Albert Einstein do Hội đồng Văn hóa Thế giới lập năm 1984 trao hàng năm cho các công trình nhìn nhận và khuyến khích các người có công nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật đem lại lợi ích thiết thực cho nhân loại.
- Albert Einstein Peace Prize được khởi động từ năm 1979 nhân dịp 100 năm ngày sinh Albert Einstein, trao cho những người đã đóng góp cho hòa bình thế giới.[213] Giải thưởng đầu tiên được trao cho Alva Reimer Myrdal[214]
Vinh danh
Để ghi nhớ công lao của Einstein, ngoài những công thức, phương trình và hiện tượng trong vật lý đều mang tên ông (như phương trình trường Einstein, vành Einstein...) còn có rất nhiều thứ khác được gán cho tên của ông như:

- Một núi lửa được phát hiện năm 1952 trên bán cầu Bắc, phần không nhìn thấy của Mặt Trăng được đặt tên theo tên ông: Hố va chạm Einstein.[215]
- Một tiểu hành tinh vòng trong vành đai chính phát hiện năm 1973 được đặt tên theo tên ông: 2001 Einstein
- Các nhà hóa học đặt tên của ông cho nguyên tố thứ 99 trong bảng tuần hoàn là Einsteini.
Trong văn hóa đại chúng
Einstein trở thành một trong những danh nhân khoa học nổi tiếng nhất kể từ khi ông công bố thuyết tương đối rộng vào năm 1919.[216][217][218] Mặc dù công chúng còn ít hiểu biết về những công trình của ông, Einstein vẫn được công nhận rộng rãi và nhận được sự tán dương. Trong giai đoạn trước Thế chiến thứ hai, tờ The New Yorker đã đăng một đoạn mô tả trong bài báo "The Talk of the Town" của họ nói rằng Einstein nổi tiếng ở Mỹ đến nỗi bị mọi người chặn lại trên đường phố vì muốn ông giải thích về "lý thuyết đó". Cuối cùng, ông cũng tìm ra cách để giải quyết những câu hỏi không ngừng. Ông nói với những người có mặt: "Xin lỗi, xin lỗi! Tôi luôn luôn bị nhầm lẫn với Giáo sư Einstein."[219]
Einstein là chủ đề hoặc là nguồn cảm hứng cho nhiều tiểu thuyết, phim, vở kịch và tác phẩm âm nhạc.[220] Ông là một hình mẫu quen thuộc cho những mô tả về các giáo sư lơ đãng; khuôn mặt biểu cảm và kiểu tóc đặc biệt của ông đã bị sao chép và phóng đại rộng rãi. Frederic Golden của tạp chí Time đã viết rằng Einstein là "giấc mơ của một họa sĩ hoạt hình đã trở thành hiện thực".[221]
Nhiều câu trích dẫn phổ biến của ông thường bị ghi sai.[222] [223]
Những dấu mốc trong đời
Các dấu mốc trong cuộc đời Bảng dưới liệt kê lại những dấu mốc chính trong cuộc đời của Albert Einstein, tham khảo theo Gary Stix (2004). "The Patent Clerk's Legacy". Scientific American. Quyển 291 số 3. Scientific American, Inc. và Pais, Abraham (1982): Subtle is the Lord: The science and the life of Albert Einstein. Oxford University Press. ISBN 978-0198539070 - 1879: Sinh tại Ulm, Đức
- 1895: Ở tuổi 16, ông viết bài tiểu luận khoa học đầu tiên "về khảo sát trạng thái của Ête trong từ trường".
- 1897: Gặp Michele Besso, người trở thành bạn thân thiết và ủng hộ các ý tưởng của Einstein sau này.
- 1900: Einstein tốt nghiệp trường ETH Zürich.
- 1901: Trở thành công dân Thụy Sĩ. Dạy học trong một thời gian ở trường phổ thông.
- 1902: Chuyển đến Bern, trở thành nhân viên hạng ba của Cục cấp bằng sáng chế. Tháng 10, bố ông Hermann Einstein qua đời.
- 1903: Einstein cưới Mileva Marić.
- 1904: Sinh con trai Hans Albert (mất năm 1973 tại Berkeley)
- 1905: Năm kỳ diệu với bốn bài báo đột phá công bố trên Annalen der Physik, ngày tạp chí nhận được:
- 18 tháng 3: "Über einen die Erzeugung und Verwandlung des Lichtes betreffenden heuristischen Gesichtspunkt", nghiên cứu về lượng tử ánh sáng và giải thích hiệu ứng quang điện.
- 11 tháng 5: "Über die von der molekularkinetischen Theorie der Wärme geforderte Bewegung von in ruhenden Flüssigkeiten suspendierten Teilchen Lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2022 tại ghostarchive.org (Lỗi: URL lưu trữ không rõ)", nghiên cứu chuyển động Brown, chứng minh sự tồn tại và xác định kích thước phân tử, đồng thời bài báo này là luận án tiến sĩ của ông sau này.
- 30 tháng 6: "Zur Elektrodynamik bewegter Körper", đưa ra thuyết tương đối hẹp cũng như sự liên hệ giữa không gian và thời gian.
- 27 tháng 9: "Ist die Trägheit eines Körpers von seinem Energieinhalt abhängig?", về hệ quả của thuyết tương đối hẹp và liên hệ giữa khối lượng và năng lượng.
- 1907: "Ý tưởng hạnh phúc nhất trong đời tôi", Einstein phát hiện ra lực hấp dẫn là tương đương với hệ quy chiếu cục bộ chuyển động gia tốc, đặt cơ sở đầu tiên đi đến thuyết tương đối rộng. Trong năm này ông cũng phát hiện ra đường đi của ánh sáng bị lệch trong trường hấp dẫn.
- 1909: Trở thành Trợ lý giáo sư ở trường Đại học Zürich.
- 1910: Sinh con trai thứ hai, Eduard (mất năm 1965).
- 1914: Là giáo sư Đại học Berlin và thành viên Viện hàn lâm Khoa học Phổ. Ly thân với Mileva, bà cùng các con trở lại Zürich. Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra.
- 1915: Cuối tháng 11 ông tìm ra được dạng đúng của phương trình trường (độc lập với David Hilbert) sau một vài tháng nỗ lực.
- 1916: công bố bài báo hoàn chỉnh đầu tiên về cơ sở của thuyết tương đối rộng "Die Grundlage der allgemeinen Relativitätstheorie". Tháng 5, ông trở thành chủ tịch Hội Vật lý Đức thay Max Planck. Viết bài báo đầu tiên về sóng hấp dẫn.
- 1917: Viết một bài báo đặt cơ sở cho hiệu ứng phát xạ kích thích của ánh sáng (laser sau này).
- Áp dụng thuyết tương đối rộng cho toàn thể vũ trụ, đưa ra hằng số vũ trụ học.
- 1919: Tháng 2, Einstein và Mileva ly dị.
- Tháng 6, ông cưới người chị họ đã ly dị là Elsa Löwenthal, hai người sống ở Berlin.
- Tháng 9 ông nhận được bức điện tín từ Hendrik Lorentz về những kết quả sơ bộ của đoàn thám hiểm người Anh dẫn đầu bởi Arthur Eddington quan sát nhật thực hồi tháng 5 cung cấp chứng cứ phù hợp với tiên đoán của thuyết tương đối tổng quát về sự lệch của ánh sáng trong trường hấp dẫn.
- 1920: Mẹ ông, bà Pauline qua đời. Tháng 6, ông đến Na Uy và Đan Mạch. Lần đầu tiên Einstein và Niels Bohr gặp nhau tại Berlin.
- 1921: Lần đầu tiên đến thăm Hoa Kỳ vào tháng 4. Bắt đầu được công chúng coi là nhà khoa học lớn. Trên đường trở về, ông ghé thăm Luân Đôn.
- 1922: Tháng 1: Hoàn thiện bài báo đầu tiên về Lý thuyết trường thống nhất, và từ đây dành phần lớn thời gian trong nghiên cứu cho lý thuyết này. Trở thành thành viên của Liên đoàn quốc gia về hợp tác trí tuệ. Bắt đầu thực hiện chuyến thăm các nước châu Á, và trên đường đến Nhật Bản tháng 11, ông nghe tin mình nhận Giải Nobel Vật lý năm 1921.
- 1925: Công bố công trình về ngưng tụ Bose–Einstein từ những phân tích thống kê về lưỡng tính sóng-hạt cho nguyên tử.
- 1927: Bắt đầu có những thảo luận với Bohr về cơ sở của cơ học lượng tử.
- 1928: Phải nằm trên giường bốn tháng do suy nhược cơ thể. Sức khỏe vẫn còn yếu trong vòng 1 năm sau đó.
- 1930: Cháu nội đầu tiên, con của Hans Albert, Bernhard ra đời.
- 1931: Gặp Edwin Hubble, người đã quan sát thấy vũ trụ đang giãn nở, khiến Einstein đã từ bỏ hằng số vũ trụ học trong phương trình của ông.
- 1932: Được bổ nhiệm làm giáo sư viện mới thành lập là Viện nghiên cứu cao cấp Princeton, với dự định chia sẻ thời gian nghiên cứu ở Đức và Mỹ. Tháng 12, ông và vợ đến Viện Công nghệ California, đồng thời không bao giờ trở lại Đức nữa.
- 1933: Ông và gia đình đến Princeton để tiếp nhận vị trí tại đây. Đảng Quốc xã nắm chính quyền tại Đức. Nhà của Einstein tại Caputh, Berlin bị lực lượng SS lục soát nhưng không tìm thấy gì, do người cháu gái của Einstein đã bí mật cất giữ các tài liệu và đồ dùng cá nhân hộ ông.
- 1935: Viết chung một bài báo cùng Boris Podolsky và Nathan Rosen nhằm phê bình cơ học lượng tử, hay nghịch lý EPR. Đi thuyền đến Bermuda nhằm chuẩn bị cho visa nhập cư vào Hoa Kỳ, cũng là lần cuối cùng ông rời Mỹ.
- 1936: Bà Elsa qua đời vì bệnh tim và thận ở tuổi 60.
- 1939: Sau khi Leo Szilard thuyết phục, ông đã ký vào một lá thư gửi tới tổng thống Franklin D. Roosevelt khuyến nghị Mỹ nên chế tạo bom nguyên tử. Mặc dù công chúng thường cho ông là "cha đẻ của bom nguyên tử", nhưng chỉ có lá thư này và công thức E = mc2 là có liên quan tới nó.
- 1940: Trở thành công dân Mỹ nhưng vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ.
- 1948: Bà Mileva qua đời ở Zürich sau một lần đột quỵ.
- 1952: Từ chối trở thành tổng thống thứ hai của nhà nước Israel.
- 1955: Ông ký vào một lá thư từ người bạn lâu năm Bertrand Russell nhằm kêu gọi các quốc gia từ bỏ vũ khí hạt nhân. Ngày 18 tháng 4, Einstein qua đời tại bệnh viện trong giấc ngủ. Tro của ông được rải tại một địa điểm bí mật.
Các bài viết
- Các bài báo của Albert Einstein được dùng tham khảo trong bài này. Danh sách đầy đủ các bài viết của ông có ở Danh sách các bài báo khoa học của Albert Einstein.
- Einstein, Albert (1901), "Folgerungen aus den Capillaritätserscheinungen (Conclusions Drawn from the Phenomena of Capillarity)", Annalen der Physik, quyển 4 số 3, tr. 513, Bibcode:1901AnP...309..513E, doi:10.1002/andp.19013090306
- Einstein, Albert (1905a), "Über einen die Erzeugung und Verwandlung des Lichtes betreffenden heuristischen Gesichtspunkt (On a Heuristic Viewpoint Concerning the Production and Transformation of Light)" (PDF), Annalen der Physik, 17 (6): 132–148, Bibcode:1905AnP...322..132E, doi:10.1002/andp.19053220607 Đây là bài báo của Năm kỳ diệu về hiệu ứng quang điện mà tạp chí Annalen der Physik nhận được 18 tháng 3.
- Einstein, Albert (1905b), A new determination of molecular dimensions. Luận án tiến sĩ hoàn thành 30 tháng 4 và nộp 20 tháng 7.
- Einstein, Albert (1905c), "On the Motion – Required by the Molecular Kinetic Theory of Heat – of Small Particles Suspended in a Stationary Liquid", Annalen der Physik, 17 (8): 549–560, Bibcode:1905AnP...322..549E, doi:10.1002/andp.19053220806. Đây là bài báo của Năm kỳ diệu về chuyển động Brown gửi tới tạp chí ngày 11 tháng 5.
- Einstein, Albert (1905d), "On the Electrodynamics of Moving Bodies", Annalen der Physik, 17 (10): 891–921, Bibcode:1905AnP...322..891E, doi:10.1002/andp.19053221004. Đây là bài báo của Năm kỳ diệu về thuyết tương đối hẹp gửi tới tạp chí 30 tháng 6.
- Einstein, Albert (1905e), "Does the Inertia of a Body Depend Upon Its Energy Content?", Annalen der Physik, 18 (13): 639–641, Bibcode:1905AnP...323..639E, doi:10.1002/andp.19053231314. Đây là bài báo của Năm kỳ diệu về công thức E = mc2 tạp chí nhận được vào ngày 27 tháng 9.
- Einstein, Albert (1915), "Die Feldgleichungen der Gravitation (The Field Equations of Gravitation)", Königlich Preussische Akademie der Wissenschaften: 844–847
- Einstein, Albert (1917a), "Kosmologische Betrachtungen zur allgemeinen Relativitätstheorie (Cosmological Considerations in the General Theory of Relativity)", Königlich Preussische Akademie der Wissenschaften
- Einstein, Albert (1917b), "Zur Quantentheorie der Strahlung (On the Quantum Mechanics of Radiation)", Physikalische Zeitschrift, 18: 121–128, Bibcode:1917PhyZ...18..121E
- Einstein, Albert (ngày 11 tháng 7 năm 1923), "Fundamental Ideas and Problems of the Theory of Relativity", Nobel Lectures, Physics 1901–1921 (PDF), Amsterdam: Elsevier Publishing Company, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2007, truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2007
- Einstein, Albert (1924), "Quantentheorie des einatomigen idealen Gases (Quantum theory of monatomic ideal gases)", Sitzungsberichte der Preussichen Akademie der Wissenschaften Physikalisch-Mathematische Klasse: 261–267. Bài viết đầu tiên trong loạt bài về lĩnh vực này.
- Einstein, Albert (1926), "Die Ursache der Mäanderbildung der Flussläufe und des sogenannten Baerschen Gesetzes", Die Naturwissenschaften, 14 (11): 223–224, Bibcode:1926NW.....14..223E, doi:10.1007/BF01510300. On Baer's law and meanders in the courses of rivers.
- Einstein, Albert; Podolsky, Boris; Rosen, Nathan (ngày 15 tháng 5 năm 1935), "Can Quantum-Mechanical Description of Physical Reality Be Considered Complete?", Physical Review, 47 (10): 777–780, Bibcode:1935PhRv...47..777E, doi:10.1103/PhysRev.47.777
- Einstein, Albert (1940), "On Science and Religion", Nature, 146 (3706), Edinburgh: Scottish Academic: 605, Bibcode:1940Natur.146..605E, doi:10.1038/146605a0, ISBN 0-7073-0453-9
- Einstein, Albert (ngày 4 tháng 12 năm 1948), "To the editors of The New York Times", New York Times, Melville, NY: AIP, American Inst. of Physics, ISBN 0-7354-0359-7, Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2012, truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013
- Einstein, Albert (tháng 5 năm 1949), "Why Socialism?", Monthly Review, lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2006, truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2006
- Einstein, Albert (1950), "On the Generalized Theory of Gravitation", Scientific American, CLXXXII (4): 13–17
- Einstein, Albert (1954), Ideas and Opinions, New York: Random House, ISBN 0-517-00393-7
- Einstein, Albert (1969), Albert Einstein, Hedwig und Max Born: Briefwechsel 1916–1955 (bằng tiếng Đức), Munich: Nymphenburger Verlagshandlung, ISBN 3-88682-005-X
- Einstein, Albert (1979), Autobiographical Notes, Paul Arthur Schilpp , Chicago: Open Court, ISBN 0-87548-352-6. Thí nghiệm tưởng tượng đuổi theo tia sáng miêu tả trong trang 48–51.
- Collected Papers: Stachel, John, Martin J. Klein, a. J. Kox, Michel Janssen, R. Schulmann, Diana Komos Buchwald (1987–2006), The Collected Papers of Albert Einstein, Vol. 1–10, Princeton University Press, Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2013, truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013
{{Chú thích}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) Further information about the volumes published so far can be found on the webpages of the Einstein Papers Project Lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2016 tại Wayback Machine and on the Princeton University Press Einstein Page
Xem thêm
Ghi chú
- 1 2 3 Cho đến năm 1913, quốc tịch Đức được thụ đắc thông qua quốc tịch của một bang thành viên (với các yêu cầu khác nhau); kể từ năm 1913, yêu cầu chung về quốc tịch được thiết lập ở cấp quốc gia. Tuy nhiên, cơ chế quốc tịch cấp bang vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi Đức Quốc xã lên nắm quyền vào năm 1933.
- ↑ tiếng Đức: [ˈalbɛʁt ˈʔaɪnʃtaɪn] ⓘ; phiên âm tiếng Việt phổ biến: An-be Anh-xtanh
Tham khảo
- 1 2 Whittaker, E. (ngày 1 tháng 11 năm 1955). "Albert Einstein. 1879–1955". Biographical Memoirs of Fellows of the Royal Society. 1: 37–67. doi:10.1098/rsbm.1955.0005. JSTOR 769242.
- ↑ "The Gold Medal" (PDF). Royal Astronomical Society. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Membership directory". Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2021.
- ↑ David Bodanis, E = mc2: A Biography of the World's Most Famous Equation (New York: Walker, 2000).
- ↑ "The Nobel Prize in Physics 1921". Nobel Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2007.
- 1 2 "Scientific Background on the Nobel Prize in Physics 2011. The accelerating universe." (page 2) Nobelprize.org.
- 1 2 Einstein 1924
- 1 2 3 4 Pais, Abraham (1982): Subtle is the Lord: The science and the life of Albert Einstein. Oxford University Press, trang 440
- ↑ Hans-Josef, Küpper (2000). "Various things about Albert Einstein". einstein-website.de. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009.
- 1 2 Paul Arthur Schilpp, editor (1951), Albert Einstein: Philosopher-Scientist, Volume II, New York: Harper and Brothers Publishers (Harper Torchbook edition), tr. 730–746
{{Chú thích}}:|author=có tên chung (trợ giúp)His non-scientific works include: About Zionism: Speeches and Lectures by Professor Albert Einstein (1930), "Why War?" (1933, co-authored by Sigmund Freud), The World As I See It (1934), Out of My Later Years (1950), and a book on science for the general reader, The Evolution of Physics (1938, co-authored by Leopold Infeld). - ↑ Frederic Golden (ngày 31 tháng 12 năm 1999). "Person Of The Century: Albert Einstein". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
- 1 2 Albert Einstein – Biography, Quỹ Nobel, truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2007
- ↑ Seelig, Carl (1956). Albert Einstein: A Documentary Biography. Staples Press.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 40.
- ↑ Stachel 2002, tr. 59–61.
- ↑ University of Pavia. "Einstein, Albert". Museo per la Storia dell'Università di Pavia. University of Pavia. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2023.
- ↑ Fölsing 1997, tr. 30-31.
- ↑ Albert Einstein Collected Papers, vol. 1 (1987), doc. 5.
- ↑ Mehra, Jagdish (2001), "Albert Einstein's first paper", The Golden Age of Physics, World Scientific, ISBN 978-981-4492-85-0
- ↑ The Three-body Problem from Pythagoras to Hawking, Mauri Valtonen, Joanna Anosova, Konstantin Kholshevnikov, Aleksandr Mylläri, Victor Orlov, Kiyotaka Tanikawa, (Springer 2016), p. 43, Simon and Schuster, 2008
- ↑ Bloom, Howard (2012). The God Problem: How a Godless Cosmos Creates . Prometheus Books. tr. 294. ISBN 978-1-61614-552-1. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 48-49.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 44.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 46.
- ↑ Calaprice & Lipscombe 2005, tr. 8.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 49.
- ↑ Fölsing 1997, tr. 36–37.
- ↑ Stachel và đồng nghiệp (2008). Tập 1 (1987), tr. 11.
- ↑ Hunziker, Herbert (2015). "Albert Einstein's Magic Mountain: An Aarau Education*". Physics in Perspective. 17 (1): 55–69. Bibcode:2015PhP....17...55H. doi:10.1007/s00016-014-0153-5. ISSN 1422-6944. ref for: Old Cantonal School Aarau
- 1 2 Highfield & Carter 1993, tr. 21,31,56–57.
- ↑ Fölsing 1997, tr. 40.
- ↑ Stachel và đồng nghiệp (2008). Tập 1 (1987), docs. 21-27.
- 1 2 3 Gagnon, Pauline (ngày 19 tháng 12 năm 2016). "The Overlooked Genius of Mileva Marić, Einstein's First Wife". Scientific American (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Troemel-Ploetz, D., "Mileva Einstein-Marić: The Woman Who Did Einstein's Mathematics", Women's Studies Int. Forum, vol. 13, no. 5, các trang 415–432, 1990.
- ↑ Walker, Evan Harris (tháng 2 năm 1989), Did Einstein Espouse his Spouse's Ideas? (PDF), Physics Today, doi:10.1063/1.2810898, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2009, truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012.
- ↑ Pais 1994, tr. 1–29.
- ↑ Holton, G., Einstein, History, and Other Passions, Harvard University Press, 1996, các trang 177–193.
- ↑ Stachel 2002, tr. 49–56.
- ↑ Martinez, A. A., "Handling evidence in history: the case of Einstein's wife." School Science Review, 86 (316), March 2005, các trang 49–56. PDF
- ↑ Renn, Jürgen; Schulmann, Robert, biên tập (ngày 16 tháng 11 năm 2000). Albert Einstein, Mileva Maric: The Love Letters (bằng tiếng Anh). Smith, Shawn biên dịch. Princeton University Press. tr. 73–74, 78. ISBN 978-0-691-08886-0.
- ↑ Calaprice & Lipscombe 2005, tr. 22–23.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 131, 135.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 226.
- ↑ Wüthrich, Urs (ngày 11 tháng 4 năm 2015). "Die Liebesbriefe des untreuen Einstein" [The love letters of the unfaithful Einstein]. Berner Zeitung (bằng tiếng Đức). Bern, Switzerland. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
Ich denke in innigster Liebe an Dich in jeder freien Minute und bin so unglücklich, wie nur ein Mensch es sein kann.
- ↑ Calaprice & Lipscombe 2005, tr. 50.
- ↑ Hoffmann, Dieter (2013). Einstein's Berlin: In the footsteps of a genius. Baltimore: The Johns Hopkins University Press. tr. 2–9, 28. ISBN 978-1-4214-1040-1.
- ↑ Stachel 1996, tr. 212.
- ↑ Smith, Dinitia (ngày 6 tháng 11 năm 1996). "Dark Side of Einstein Emerges in His Letters". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Stachel (1996), tr. 219.
- ↑ "Volume 9: The Berlin Years: Correspondence, January 1919 – April 1920 (English translation supplement) page 6". einsteinpapers.press.princeton.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2021.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 18.
- ↑ Calaprice, Kennefick & Schulmann 2015, tr. 62.
- ↑ Highfield, Roger (ngày 10 tháng 7 năm 2006). "Einstein's theory of fidelity". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022.
- ↑ Overbye, Dennis (ngày 17 tháng 4 năm 2017). "'Genius' Unravels the Mysteries of Einstein's Universe". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2017.
- ↑ "Genius Albert Einstein's Theory of Infidelity". NatGeo TV. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Getting up close and personal with Einstein". The Jerusalem Post | JPost.com. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Highfield & Carter 1993, tr. 216.
- ↑ "Einstein secret love affairs out!". Hindustan Times. ngày 13 tháng 7 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Graydon, Samuel (ngày 14 tháng 11 năm 2023). Einstein in Time and Space: A Life in 99 Particles (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1). New York: Simon and Schuster. tr. 199. ISBN 978-1-9821-8512-1.
- ↑ "New letters shed light on Einstein's love life". NBC News. ngày 11 tháng 7 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Albert Einstein may have had the IQ, but he needed to work on his EQ". The Economic Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Pogrebin, Robin (ngày 1 tháng 6 năm 1998). "Love Letters By Einstein at Auction". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Einstein's letters show affair with spy". The Independent. ngày 2 tháng 6 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
- ↑ Robinson, Andrew. Einstein: A Hundred Years of Relativity. Princeton: Princeton University Press. tr. 143–145. ISBN 978-0-691-16989-7.
- ↑ Neffe 2007, tr. 203.
- ↑ Stachel, et al (2008). Vol. 1 (1987), doc. 67.
- ↑ Fölsing 1997, tr. 82.
- ↑ "Einstein at the patent office" (official website). Berne, Switzerland: Swiss Federal Institute of Intellectual Property, IGE/IPI. ngày 6 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016.
- 1 2 "FAQ about Einstein and the Institute" (official website). Berne, Switzerland: Swiss Federal Institute of Intellectual Property, IGE/IPI. ngày 27 tháng 5 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015.
- ↑ J. J. O'Connor; E. F. Robertson (tháng 5 năm 2010). "Grossmann biography". MacTutor. School of Mathematics and Statistics, University of St Andrews, Scotland. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 103.
- ↑ Galison 2000, tr. 370.
- ↑ Galison 2000, tr. 377.
- ↑ Highfield & Carter 1993, tr. 96–98.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 79–84 124–130.
- ↑ Einstein (1901).
- ↑ Murrell, J. N.; Grobert, N. (tháng 1 năm 2002). "The centenary of Einstein's first scientific paper". Notes and Records of the Royal Society of London. 56 (1): 89–94. doi:10.1098/rsnr.2002.0169. JSTOR 532124.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 151.
- 1 2 Einstein (1905b).
- ↑ Einstein (1926b). A New Determination of Molecular Dimensions.
- ↑ Mehra, Jagdish (ngày 28 tháng 2 năm 2001). Golden Age Of Theoretical Physics, The (Boxed Set Of 2 Vols) (bằng tiếng Anh). World Scientific. ISBN 978-981-4492-85-0.
- ↑ May, Andrew (2017). Clegg, Brian (biên tập). Albert Einstein, in 30-Second Physics: The 50 most fundamental concepts in physics, each explained in half a minute. London: Ivy Press. tr. 108–109. ISBN 978-1-78240-514-6.
- ↑ "Universität Zürich: Geschichte". Uzh.ch. ngày 2 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
- ↑ Kant, Horst. "Albert Einstein and the Kaiser Wilhelm Institute for Physics in Berlin". in Renn, Jürgen. "Albert Einstein – Chief Engineer of the Universe: One Hundred Authors for Einstein." Ed. Renn, Jürgen. Wiley-VCH. 2005. các trang 166–169. ISBN 3-527-40574-7
- ↑ Calaprice & Lipscombe 2005, tr. xix.
- 1 2 Heilbron, 2000, p. 84.
- 1 2 Andrzej, Stasiak (2003), "Myths in science", EMBO Reports, 4 (3): 236, doi:10.1038/sj.embor.embor779, truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013
- ↑ Kennefick, Daniel (tháng 3 năm 2009). "Testing relativity from the 1919 eclipse— a question of bias". Physics Today. College Park, MD: American Institute of Physics. tr. 37–42. ISSN 0031-9228.
- ↑ Hoffmann & Dukas 1972, tr. 145–148.
- ↑ Fölsing 1997, tr. 499–508.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 409–410.
- 1 2 Isaacson 2024, tr. 409–411.
- ↑ Fölsing 1997, tr. 659.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 532.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 535–536.
- ↑ Isaacson 2024, tr. 539.
- 1 2 Isaacson 2024, tr. 538–541.
- ↑ Hoffmann & Dukas 1972, tr. 165–171.
- ↑ Fölsing 1997, tr. 666–677.
- ↑ Clark 1971, tr. 619.
- ↑ Fölsing 1997, tr. 649, 678.
- ↑ Clark 1971, tr. 642.
- ↑ Fölsing 1997, tr. 686-687.
- ↑ "In Brief". Institute for Advanced Study. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2010.
- ↑ Evans-Pritchard, Ambrose (ngày 29 tháng 8 năm 2010). "Obama could kill fossil fuels overnight with a nuclear dash for thorium". The Daily Telegraph. Luân Đôn.
- 1 2 3 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênIsaacson2 - ↑ Gosling, F.G. The Manhattan Project: Making the Atomic Bomb, U.S Department of Energy, History Division (January 1999) p. vii
- ↑ Diehl, Sarah J.; Moltz, James Clay. Nuclear Weapons and Nonproliferation: a Reference Handbook, ABC-CLIO (2008) p. 218
- 1 2 Stern, Fritz. Essay, "Einstein's Germany", E = Einstein: His Life, His Thought, and His Influence on Our Culture, Sterling Publishing (2006) các trang 97–118
- ↑ Clark 1971, tr. 752
- ↑ Isaacson 2024, tr. 570.
- ↑ Jerome & Taylor 2006, tr. x.
- ↑ Francis, Matthew (ngày 3 tháng 3 năm 2017). "How Albert Einstein Used His Fame to Denounce American Racism". Smithsonian Magazine (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Calaprice 2005, tr. 148–149.
- ↑ "North America: early 20th Century Albert Einstein (1879-1955)". International Vegetarian
- ↑ Jon Wynne-Tyson (1985), The Extended Circle
- 1 2 "ISRAEL: Einstein Declines". Time magazine. ngày 1 tháng 12 năm 1952. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010.
- ↑ Vì sao bác học Einstein không muốn trở thành Tổng thống Israel? Văn Hòa, An ninh thế giới, 7:10, 27/08/2005 (theo Historia)
- ↑ "Einstein in Princeton / Scientist, Humanitarian, Cultural Icon". Historical Society of Princeton. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010.
- ↑ The Case of the Scientist with a Pulsating Mass, ngày 14 tháng 6 năm 2002, truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2007
- ↑ Albert Einstein Archives (tháng 4 năm 1955), Draft of projected Telecast Israel Independence Day, tháng 4 năm 1955 (last statement ever written), Einstein Archives Online: Albert_Einstein, truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015 Bản lưu 7/6/2003
- ↑ Cohen, J.R.; Graver, L.M. (1995). "The ruptured abdominal aortic aneurysm of Albert Einstein". Surgery, Gynecology & Obstetrics. Quyển 170 số 5. tr. 455–8. ISSN 0039-6087. PMID 2183375.
{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ↑ O'Connor, J.J.; Robertson, E.F. (1997), "Albert Einstein", The MacTutor History of Mathematics archive, School of Mathematics and Statistics, University of St. Andrews, truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2007
- ↑ Dr. Albert Einstein Dies in Sleep at 76. World Mourns Loss of Great Scientist., New York Times, ngày 19 tháng 4 năm 1955,
Princeton, New Jersey, 18 tháng 4 năm 1955. Dr. Albert Einstein, one of the great thinkers of the ages, died in his sleep here early today.
{{Chú thích}}:|ngày truy cập=cần|url=(trợ giúp) - ↑ The Long, Strange Journey of Einstein's Brain, truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2007
- ↑ Pais, Abraham (1982), Subtle is the Lord. The Science and the Life of Albert Einstein, Oxford University Press, tr. xi, ISBN 019853907X
- ↑ "Albert Einstein – Biography". Nobel Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2007.
- ↑ "Einstein archive at the Instituut-Lorentz." Instituut-Lorentz. 2005. Truy cập 21 tháng 11 năm 2005.
- 1 2 3 (bằng tiếng Đức)Hans-Josef Kuepper. "List of Scientific Publications of Albert Einstein". Einstein-website.de. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015.
- ↑ Điều này trở thành có thể đến khi phát triển các thiết bị dò hạt anpha ở đầu thế kỷ XX. Rutherford mời Mach xem màn hình nhấp nháy trong phòng tối, nơi mà bản thân các hạt anpha va đập vào và được nhìn trực tiếp trên man tối.
- ↑ (Einstein 1905b)
- ↑ có thể xem tại đây
- ↑ Điện tích của 1 mol electron đã được đo theo hằng số Faraday. Chia cho điện tích của 1 electron ta được số Avogadro.
- ↑ Major, Fouad G. (2007). The quantum beat: principles and applications of atomic clocks (ấn bản thứ 2). Springer. tr. 142. ISBN 0-387-69533-8.
- ↑ (Einstein 1905d)
- ↑ Hawking, S. W. (2001), Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ, Bantam Books, ISBN 0-55-380202-X
- ↑ Schwartz, J.; McGuinness, M. (1979), Einstein cho người mới bắt đầu, Pantheon Books, ISBN 0-39-450588-3
- ↑ (Einstein 1905e)
- ↑ Thảo luận về sự chấp nhận thuyết tương đối trên toàn thế giới, cũng như những phản đối, xem bài viết của Thomas F.Glick, ed., The Comparative Reception of Relativity (Kluwer Academic Publishers, 1987), ISBN 90-277-2498-9.
- ↑ Pais, Abraham (1982), Subtle is the Lord. The Science and the Life of Albert Einstein, Oxford University Press, tr. 382–386, ISBN 019853907X
- ↑ Einstein, Albert (1905), "Über einen die Erzeugung und Verwandlung des Lichtes betreffenden heuristischen Gesichtspunkt" (PDF), Annalen der Physik, 17: 132–148, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2014, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2009
- ↑ Millikan, R. (1914). "A Direct Determination of "h"". Physical Review. Quyển 4 số 1. tr. 73–75. Bibcode:1914PhRv....4R..73M. doi:10.1103/PhysRev.4.73.2.
- 1 2 3 Pais, Abraham (1982), Subtle is the Lord. The Science and the Life of Albert Einstein, Oxford University Press, tr. Ch 6, ISBN 019853907X
- ↑ (Einstein 1905a).
- ↑ Pais, Abraham (1982), Subtle is the Lord. The Science and the Life of Albert Einstein, Oxford University Press, tr. 522, ISBN 019853907X
- ↑ O'Connor, John J.; Robertson, Edmund F., "Albert Einstein", Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor, Đại học St. Andrews
- ↑ Levenson, Thomas. "Einstein: Genius Among Geniuses." Public Broadcasting Service. 2005. Truy cập 25 tháng 2 năm 2006. bản lưu 02/02/1999
- ↑ Einstein, A., "Relativitätsprinzip und die aus demselben gezogenen Folgerungen (On the Relativity Principle and the Conclusions Drawn from It)", Jahrbuch der Radioaktivität (Yearbook of Radioactivity), 4: 411–462 page 454 (Wir betrachen zwei Bewegung systeme...)
- ↑ Einstein, Albert (1911), "On the Influence of Gravity on the Propagation of Light", Annalen der Physik, 35: 898–908, doi:10.1002/andp.19113401005 (also in Collected Papers Vol. 3, document 23)
- 1 2 Crelinsten, Jeffrey. "Einstein’s Jury: The Race to Test Relativity." Princeton University Press. 2006. Truy cập 13 tháng 3 năm 2007. ISBN 978-0-691-12310-3
- 1 2 (Einstein 1915)
- ↑ Two friends in Leiden, truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2007
- ↑ Andrzej, Stasiak (2003), "Myths in science", EMBO reports, 4 (3): 236, doi:10.1038/sj.embor.embor779, truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2007
- ↑ Crelinsten, Jeffrey (2006), Einstein's Jury: The Race to Test Relativity, Princeton University Press, tr. 103–108, ISBN 978-0-691-12310-3, truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007
- ↑ Crelinsten, Jeffrey (2006), Einstein's Jury: The Race to Test Relativity, Princeton University Press, tr. 114–119, ISBN 978-0-691-12310-3, truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007
- ↑ The genius of space and time, The Guardian, ngày 17 tháng 9 năm 2005, truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2007
- ↑ Jürgen Schmidhuber. "Albert Einstein (1879–1955) and the ’Greatest Scientific Discovery Ever’." 2006. Truy cập 4 tháng 10 năm 2006.
- ↑ See the table in MathPages Bending Light
- ↑ Hentschel, Klaus and Ann M. (1996), Physics and National Socialism: An Anthology of Primary Sources, Birkhaeuser Verlag, xxi, ISBN 3-76-435312-0
- ↑ For a discussion of nhà thiên văn họcs' attitudes and debates about relativity, see Crelinsten, Jeffrey (2006), Einstein's Jury: The Race to Test Relativity, Princeton University Press, ISBN 0691123101, especially chapters 6, 9, 10 and 11.
- ↑ Einstein, A (tháng 6 năm 1916). "Näherungsweise Integration der Feldgleichungen der Gravitation". Sitzungsberichte der Königlich Preussischen Akademie der Wissenschaften Berlin. Quyển part 1. tr. 688–696.
- ↑ Einstein, A (1918). "Über Gravitationswellen". Sitzungsberichte der Königlich Preussischen Akademie der Wissenschaften Berlin. Quyển part 1. tr. 154–167.
- 1 2 3 "Found! Gravitational Waves, or a Wrinkle in Spacetime". Nadia Drake. National Geographic. ngày 11 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2016.
- ↑ "Gravity investigated with a binary pulsar-Press Release: The 1993 Nobel Prize in Physics". Nobel Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2016.
- ↑ Abbott, Benjamin P. (2016). "Observation of Gravitational Waves from a Binary Black Hole Merger". Phys. Rev. Lett. Quyển 116 số 6. LIGO Scientific Collaboration and Virgo Collaboration. tr. 061102. arXiv:1602.03837. Bibcode:2016PhRvL.116f1102A. doi:10.1103/PhysRevLett.116.061102.
{{Chú thích tạp chí}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|lay-summary=(trợ giúp) - ↑ "Gravitational Waves: Ripples in the fabric of space-time". space.mit.edu. LIGO | MIT. ngày 11 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Scientists make first direct detection of gravitational waves". Jennifer Chu. MIT News. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Einstein's gravitational waves 'seen' from black holes - BBC News". BBC News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016.
- ↑ Overbye, Dennis (ngày 11 tháng 2 năm 2016). "Gravitational Waves Detected, Confirming Einstein's Theory". The New York Times. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016.
- ↑ (Einstein 1917a)
- ↑ Kant, Horst. "Albert Einstein and the Kaiser Wilhelm Institute for Physics in Berlin." in Renn, Jürgen. "Albert Einstein – Chief Engineer of the Universe: One Hundred Authors for Einstein." Ed. Renn, Jürgen. Wiley-VCH. 2005. các trang 166–169. ISBN = 3527405747
- ↑ (Einstein 1917b)
- ↑ Cornell and Wieman Share 2001 Nobel Prize in Physics, ngày 9 tháng 10 năm 2001, truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2007 bản lưu 24/11/2001
- ↑ "Einstein archive at the Instituut-Lorentz". Instituut-Lorentz. 2005. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2005.
- ↑ Albert Einstein, Das hamiltonisches Prinzip und allgemeine Relativitätstheorie (The Hamiltonian principle and general relativity). Sitzungsber. preuss. Acad. Wiss. 1916, 2, 1111–1116.
- ↑ Albert Einstein, Der Energiesatz in der allgemeinen Relativitätstheorie. (An energy conservation law in general relativity). Sitzungsber. preuss. Acad. Wiss. 1918, 1, 448–459
- ↑ Lev Davidovich Landau & Evgeny Mikhailovich Lifshitz, The Classical Theory of Fields, (1951), Pergamon Press, ISBN 7-5062-4256-7 ch 11, ph #96
- ↑ (Einstein 1950)
- ↑ Einstein, Albert and Rosen, Nathan (1935). "The Particle Problem in the General Theory of Relativity". Physical Review. Quyển 48. tr. 73. Bibcode:1935PhRv...48...73E. doi:10.1103/PhysRev.48.73.
{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ↑ Élie Cartan. "Sur une généralisation de la notion de courbure de Riemann et les espaces à torsion." C. R. Acad. Sci. (Paris), 174:593–595, 1922.
- ↑ Élie Cartan. "Sur les variétés à connexion affine et la théorie de la relativité généralisée." Part I: Ann. Éc. Norm. 40: 325–412 and ibid. 41: 1–25; Part II: ibid. 42: 17–88
- ↑ Hubert F. M. Goenner. "On the History of Unified Field Theories." Lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2017 tại Wayback Machine Living Rev. Relativity, 7, (2004), 2.
- ↑ Bohr N. "Discussions with Einstein on Epistemological Problems in Atomic Physics". The Value of Knowledge: A Miniature Library of Philosophy. Marxists Internet Archive. Lấy từ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2010. Truy cập 30 tháng 8 năm 2010. Lấy từ Albert Einstein: Philosopher-Scientist (1949), xuất bản bởi Ấn hành Đại học Cambridge University, 1949. Ghi chép lại của Niels Bohr về cuộc hội thoại với Einstein.
- ↑ (Einstein 1969). A reprint of this book was published by Edition Erbrich in 1982, ISBN 3-88682-005-X
- ↑ (Einstein 1935)
- ↑ A. Einstein, W. J. de Haas, Experimenteller Nachweis der Ampereschen Molekularströme, Deutsche Physikalische Gesellschaft, Verhandlungen 17, các trang 152–170 (1915).
- ↑ A Pais. Subtle is the Lord: The science and the life of Albert Einstein. Oxford University Press, trang 245
- ↑ Moore, Walter (1989), Schrödinger: Life and Thought, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0-521-43767-9
- 1 2 3 Botstein, Leon; Galison, Peter; Holton, Gerald James; Schweber, Silvan S. Einstein for the 21st century: His Legacy in Science, Art, and Modern Culture, Princeton Univ. Press (2008) các trang 161-164
- ↑ Cariaga, Daniel, "Not Taking It with You: A Tale of Two Estates," Los Angeles Times, ngày 22 tháng 12 năm 1985. Truy cập April 2012.
- ↑ Auction listing by RR Auction, auction closed ngày 13 tháng 10 năm 2010.
- ↑ Einstein and his love of music Physics world - January 2005
- ↑ "I am convinced there is only one way to eliminate (the) grave evils (of capitalism), namely through the establishment of a socialist economy, accompanied by an educational system which would be oriented toward social goals. In such an economy, the means of production are owned by society itself and are utilized in a planned fashion. A planned economy, which adjusts production to the needs of the community, would distribute the work to be done among all those able to work and would guarantee a livelihood to every man, woman, and child. The education of the individual, in addition to promoting his own innate abilities, would attempt to develop in him a sense of responsibility for his fellow-men in place of the glorification of power and success in our present society." trong Why Socialism? bởi Albert Einstein, Monthly Review, tháng 5 năm 1949
- ↑ David E. Rowe and Robert Schulmann (ngày 25 tháng 6 năm 2007). "What Were Einstein's Politics?". George Mason University's History News Network.
- ↑ "Einstein and Complex Analyses of Zionism" Jewish Daily Forward, 24 tháng 7 năm 2009
- ↑ "Albert Einstein on Zionism", Edward Corrigan
- ↑ Pulzer, Peter G.J. (2003), Jews and the German state: the political history of a minority, 1848–1933, Blackwell Publishers, ISBN 9780814331309, truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2009
- ↑ Leonhard, Elke (1993), Von postrevolutionärer Scheinblüte zum politischen Bankrott; Weimars liberale Parteien DDP und DVP (PDF) (bằng tiếng Đức), Sozialdemokratischer Pressedienst, truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2009
- ↑ Holborn, Hajo (1971), Deutsche Geschichte in der Neuzeit, III (bằng tiếng Đức), R. oldenbourg, ISBN 9783486432510, truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2009[liên kết hỏng]
- ↑ Calaprice 2005, tr. 173.
- ↑ Butcher, Sandra Ionno (2005), The Origins of the Russell–Einstein Manifesto (PDF), Council of the Pugwash Conferences on Science and World Affairs, truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2007
- ↑ Ken Gewertz (ngày 12 tháng 4 năm 2007), Albert Einstein, Civil Rights activist, Harvard University Gazette, truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2007
- ↑ Hawking, Stephen W. (2001), The universe in short, Bantam Books, tr. 26, ISBN 9780553802023
- ↑ Feldman, Burton (2001), The Nobel prize: a history of genius, controversy, and prestige, Arcade Publishing, tr. 141, ISBN 1-559-70592-2, Trang 141
- ↑ Brian, Dennis (1996), Einstein: A Life, New York: John Wiley & Sons, tr. 127, ISBN 0471114596
- ↑ "Belief in God a 'product of human weaknesses': Einstein letter", CBC News. Truy cập 16 tháng 12 năm 2009.
- ↑ "Letters of Note: The word God is a product of human weakness", Letters of Note. Truy cập 16 tháng 12 năm 2009.
- ↑ Einstein, Albert (1930). "Religion and Science" New York Times Magazine (Nov. 9): 1-4.
- ↑ The Nobel Prize in Physics 1921: Albert Einstein
- ↑ ""Matteucci" Medal". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013.
- ↑ Copley Medal | Royal Society
- ↑ "Preisträger Max Planck nach Jahren: Max-Planck-Medaille". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013.
- ↑ Letter from the Albert Einstein Peace Prize Foundation to Joshua Lederberg, Norman Cousins, 14/12/1979
- ↑ "NAMES & FACES" in Boston Globe ngày 14 tháng 3 năm 1980. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2006". Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 1999. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2013.
- ↑ Planetary Names: Crater, craters: Einstein on Moon IAU
- ↑ Halpern, Paul (ngày 1 tháng 4 năm 2019). "Albert Einstein, celebrity physicist". Physics Today. Quyển 72 số 4. tr. 38–45. doi:10.1063/PT.3.4183. ISSN 0031-9228.
- ↑ Fahy, Declan (2015). "A Brief History Of Scientific Celebrity". Skeptical Inquirer. Quyển 39 số 4.
- ↑ Missner, Marshall (tháng 5 năm 1985). "Why Einstein Became Famous in America". Social Studies of Science. Quyển 15 số 2. tr. 267–291. doi:10.1177/030631285015002003. JSTOR 285389. S2CID 143398600.
- ↑ Libman, E. (ngày 14 tháng 1 năm 1939). "Disguise". The New Yorker.
- ↑ McTee, Cindy. "Einstein's Dream for orchestra". Cindymctee.com.
- ↑ Golden, Frederic (ngày 3 tháng 1 năm 2000). "Person of the Century: Albert Einstein". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2006.
- ↑ Novak, Matt (ngày 16 tháng 5 năm 2015). "9 Albert Einstein Quotes That Are Completely Fake". Gizmodo. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Did Albert Einstein Humiliate an Atheist Professor?". Snopes. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018.
Thư mục
- Bell, J. S. (1966). "On the problem of hidden variables in quantum mechanics". Reviews of Modern Physics. 38 (3): 447–452. Bibcode:1966RvMP...38..447B. doi:10.1103/revmodphys.38.447. OSTI 1444158.
- Calaprice, Alice (2000). The Expanded Quotable Einstein. Princeton University Press. ISBN 978-0-691-07021-6.
- Calaprice, Alice (2005). The New Quotable Einstein. Princeton University Press. ISBN 978-0-691-12075-1.
- Calaprice, Alice; Lipscombe, Trevor (2005). Albert Einstein: A Biography. Greenwood Publishing Group. ISBN 978-0-313-33080-3.
- Calaprice, Alice (2010). The Ultimate Quotable Einstein. Princeton University Press. ISBN 978-1-4008-3596-6.
- Calaprice, Alice; Kennefick, Daniel; Schulmann, Robert (2015). An Einstein Encyclopedia. Princeton University Press. Bibcode:2016eien.book.....C. ISBN 978-0-691-14174-9.
- Chaplin, Charles (1964). Charles Chaplin: My Autobiography. New York: Simon and Schuster.
- Clark, Ronald W. (1971). Einstein: The Life and Times. New York: Avon Books. ISBN 978-0-380-44123-5.
- Fölsing, Albrecht (1997). Albert Einstein. Osers, Ewald biên dịch. Tóm lược bởi Ewald Osers. New York: Penguin Viking. ISBN 978-0-670-85545-2.
- Galison, Peter (2000). "Einstein's Clocks: The Place of Time". Critical Inquiry (bằng tiếng Anh). Quyển 26 số 2. tr. 355–389. doi:10.1086/448970. ISSN 0093-1896. JSTOR 1344127.
- Highfield, Roger; Carter, Paul (1993). The Private Lives of Albert Einstein. Luân Đôn: Faber and Faber. ISBN 978-0-571-16744-9.
- Hoffmann, Banesh; Dukas, Helen (1972). Albert Einstein: Creator and rebel (ấn bản thứ 1). New York: Viking Press. ISBN 978-0-670-11181-7.
- Isaacson, Walter (2024). Einstein - Cuộc đời và vũ trụ. Vũ Minh Tân biên dịch (ấn bản thứ 2). Nhà xuất bản Thế Giới. ISBN 978-604-392-359-9.
- Jerome, Fred; Taylor, Rodger (2006). Einstein on Race and Racism. Rutgers University Press. ISBN 978-0-8135-3952-2. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015.
- Moring, Gary (2004): The complete idiot's guide to understanding Einstein (1st ed. 2000). Indianapolis IN: Alpha books (Macmillan USA). ISBN 0-02-863180-3
- Neffe, Jürgen (2007). Einstein: A Biography. Frisch, Shelley biên dịch. Farrar, Straus and Giroux. ISBN 978-0-374-14664-1.
- Pais, Abraham (1982). Subtle is the Lord: The Science and the Life of Albert Einstein. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-853907-0.
- Pais, Abraham (1994). Einstein Lived Here. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-280672-7.
- Parker, Barry (2000): Einstein's Brainchild: Relativity Made Relatively Easy!. Prometheus Books. Illustrated by Lori Scoffield-Beer. A review of Einstein's career and accomplishments, written for the lay public. ISBN 978-1591025221
- Peres, Asher (2002). Quantum Theory: Concepts and Methods. Kluwer. tr. 149.
- Robeson, Paul (2002). Paul Robeson Speaks. Citadel. tr. 333.
- Rowe, David E.; Schulmann, Robert, biên tập (2007). Einstein on Politics: His Private Thoughts and Public Stands on Nationalism, Zionism, War, Peace, and the Bomb. Princeton University Press. ISBN 978-0-691-12094-2.
- Rowe, David E.; Schulmann, Robert, biên tập (2013). Einstein on Politics: His Private Thoughts and Public Stands on Nationalism, Zionism, War, Peace, and the Bomb. Princeton University Press. ISBN 978-1-4008-4828-7.
- Scheideler, Britta (2002). "The Scientist as Moral Authority: Albert Einstein between Elitism and Democracy, 1914–1933". Historical Studies in the Physical and Biological Sciences. 32 (2): 319–346. doi:10.1525/hsps.2002.32.2.319. JSTOR 10.1525/hsps.2002.32.2.319.
- Stachel, John J. (1996). "Albert Einstein and Mileva Marić". Trong Pycior, Helena M.; Abir-Am, Pnina; Guttmann, Nancy G. (biên tập). Creative Couples in the Sciences (PDF). Rutgers University Press. ISBN 978-0-813-52188-6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2016.
- Stachel, John J. (2002), Einstein from "B" to "Z", Springer, ISBN 978-0-8176-4143-6, truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011
Liên kết ngoài
| Từ điển từ Wiktionary | |
| Tập tin phương tiện từ Commons | |
| Tin tức từ Wikinews | |
| Danh ngôn từ Wikiquote | |
| Văn kiện từ Wikisource | |
| Tủ sách giáo khoa từ Wikibooks | |
| Tài nguyên học tập từ Wikiversity | |
- Anhxtanh A. tại Từ điển bách khoa Việt Nam
- Albert Einstein trên Facebook
- Albert Einstein, Thế giới như tôi thấy. Nhà xuất bản Tri Thức 2005
- Lá thư mới tiết lộ cuộc sống tình cảm của Einstein M.T. VnExpress 11/7/2006, 09:36 GMT+7 (theo Reuters)
(bằng tiếng Anh)
- Albert Einstein (German-American physicist) tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
- Albert Einstein Archives, Jerusalem
- Báo cáo về Albert Einstein trên FBI
- Einstein Online.(bằng tiếng Anh) Trang web với thông tin cơ bản về thuyết tương đối
- Einstein Archives onlineLưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011 tại Wayback Machine (bằng tiếng Anh) Các tài liệu lưu trữ của Einstein
- Works by Albert Einstein (public domain in Canada)
- The MacTutor History of Mathematics archive, School of Mathematics and Statistics, University of St Andrews, Scotland, 1997, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2013
- Nobelprize.org Biography: Albert Einstein
- Các công trình liên quan hoặc của Albert Einstein trên các thư viện của thư mục (WorldCat)
- Sinh năm 1879
- Mất năm 1955
- Albert Einstein
- Nhà vật lý Đức
- Nhà vật lý Thụy Sĩ
- Nhà vật lý Mỹ
- Nhà vật lý Do Thái
- Người đoạt giải Nobel Vật lý
- Người Đức đoạt giải Nobel
- Người Thụy Sĩ đoạt giải Nobel
- Người Hoa Kỳ đoạt giải Nobel
- Dự án Manhattan
- Người Mỹ gốc Đức
- Người Mỹ gốc Do Thái
- Nhà vật lý lý thuyết
- Dân chủ xã hội
- Người Zürich
- Kỹ sư Mỹ
- Nhà triết học Mỹ
- Người Berlin
- Người München
- Nhà văn Mỹ thế kỷ 20
- Nhà phát minh Mỹ
- Nhà phát minh Đức
- Nhà triết học khoa học
- Người Mỹ gốc Đức-Do Thái
- Kỹ sư Mỹ thế kỷ 20
- Nhà phát minh Mỹ thế kỷ 20
- Nhà vật lý Mỹ thế kỷ 20
- Nhà văn khoa học Mỹ
- Triết học khoa học
- Nam nhà văn Mỹ thế kỷ 20
- Nhà hoạt động quyền công dân Mỹ
- Công dân nhập tịch Hoa Kỳ