Casemiro
|
Casemiro trong màu áo đội tuyển Brasil tại FIFA World Cup 2026 | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Carlos Henrique Casimiro[1] | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 23 tháng 2, 1992 [1] | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | São José dos Campos, São Paulo, Brasil | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,85 m (6 ft 1 in)[2] | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền vệ phòng ngự | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2002–2010 | São Paulo | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2010–2013 | São Paulo | 92 | (9) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2013 | → Real Madrid Castilla (mượn) | 15 | (1) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2013 | → Real Madrid (mượn) | 1 | (0) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2013–2022 | Real Madrid | 221 | (24) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2014–2015 | → Porto (mượn) | 28 | (3) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2022–2026 | Manchester United | 111 | (15) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2009 | U-17 Brazil | 7 | (1) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2011 | U-20 Brasil | 15 | (3) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2011– | Brasil | 91 | (10) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 15:01, 17 tháng 5 năm 2026 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 21:44, 5 tháng 7 năm 2026 (UTC) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Carlos Henrique Casimiro (sinh ngày 23 tháng 2 năm 1992), thường được biết đến với tên gọi Casemiro [ka.zeˈmi.ɾu],[3] là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Brasil hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ phòng ngự cho đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil.
Casemiro bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ São Paulo và thăng tiến qua các lứa trẻ. Anh ghi được 11 bàn thắng trong 111 trận đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ. Khả năng phòng ngự của anh đã thu hút sự chú ý của câu lạc bộ Real Madrid, và anh gia nhập câu lạc bộ theo dạng cho mượn vào tháng 1 năm 2013. Anh chơi 15 trận cho đội Real Madrid Castilla trong một khoảng thời gian cho mượn. Sau đó, anh được Real Madrid ký hợp đồng chính thức với mức phí 5,1 triệu bảng Anh, trở thành một phần không thể thiếu của đội một đội chủ sân Santiago Bernabéu.
Sau khi gia nhập Real Madrid, Casemiro lúc đầu gặp khá nhiều khó khăn trong việc giành một suất đá chính trong đội hình chính. Anh được cho mượn đến Porto để có thêm thời gian thi đấu. Trong thời gian ở Porto, Casemiro đã thể hiện vô cùng ấn tượng và giúp đội bóng lọt vào đến vòng tứ kết của UEFA Champions League.[4] Porto có quyền mua đứt Casemiro sau khi hợp đồng cho mượn kết thúc nhưng Real Madrid đã quyết định hủy bỏ điều khoản này, trả cho Porto khoản phí phạt 7 triệu euro trong kỳ chuyển nhượng mùa hè năm 2015.[5] Sau khi trở lại câu lạc bộ, Casemiro đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong thành công của Real Madrid, trở thành một trong những tiền vệ phòng ngự xuất sắc nhất thế giới và giành được vô số danh hiệu, bao gồm ba chức vô địch La Liga, ba Siêu cúp Tây Ban Nha, ba FIFA Club World Cup, ba UEFA Super Cup, một Cúp Nhà vua Tây Ban Nha và rực rỡ nhất, là năm chức vô địch UEFA Champions League. Vào năm 2022, anh rời Real Madrid và gia nhập câu lạc bộ Manchester United với mức phí chuyển nhượng được cho là 70,65 triệu euro, và giành chức vô địch EFL Cup ngay trong mùa giải đầu tiên chơi cho câu lạc bộ này.[6]
Là một tuyển thủ quốc gia từ năm 2011, Casemiro đã có mặt trong đội hình đội tuyển Brasil tại ba kỳ World Cup (2018, 2022 và 2026) cũng như bốn kỳ Cúp bóng đá Nam Mỹ, giành chức vô địch giải đấu này vào năm 2019 và về nhì tại giải đấu năm 2021.
Sự nghiệp câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]São Paulo
[sửa | sửa mã nguồn]2003–2010: Sự nghiệp cầu thủ trẻ
[sửa | sửa mã nguồn]Sinh ra ở São José dos Campos, São Paulo, Casemiro là sản phẩm của hệ thống trẻ của câu lạc bộ São Paulo. Từ 11 tuổi trở đi, anh giữ chức đội trưởng cho các cấp độ U của câu lạc bộ;[7][8] anh được biết đến với biệt danh Carlão – một dạng bổ sung của tên gọi tiếng Bồ Đào Nha của mình từ rất sớm, và đã được triệu tập để tham dự Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2009.[9]
2010–2013: Thành công nối tiếp thành công
[sửa | sửa mã nguồn]Casemiro ra mắt Série A vào ngày 25 tháng 7 năm 2010, trong trận thua trên sân khách trước Santos. Anh ghi bàn thắng đầu tiên với tư cách là cầu thủ chuyên nghiệp vào ngày 15 tháng 8, mang về cho câu lạc bộ trận hòa 2–2 với Cruzeiro.[10]
Vào ngày 7 tháng 4 năm 2012, Casemiro ghi bàn thắng đầu tiên trong chiến thắng 2–0 trước Mogi Mirim tại Arena Barueri thuộc khuôn khổ Campeonato Paulista 2012 sau khi vào sân thay thế cho cầu thủ gặp chấn thương Fabrício từ rất sớm, nhưng sau đó anh lại bị đuổi khỏi sân.[11] São Paulo cũng đã giành được chức vô địch Copa Sudamericana 2012, khi cầu thủ này chỉ vào sân thay người một lần trong chiến thắng 5–0 trên sân nhà trước Universidad de Chile trong trận tứ kết lượt về vào ngày 7 tháng 11.[12]
Real Madrid
[sửa | sửa mã nguồn]2013–2015: Những thành công đầu tiên và được cho mượn đến Porto
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 31 tháng 1 năm 2013, Casemiro được cho mượn đến câu lạc bộ Real Madrid tại Tây Ban Nha, thi đấu cho đội B của Real Madrid thi đấu tại Segunda División.[13] Anh ra sân trận đầu tiên tại giải đấu này vào ngày 16 tháng 2, đá chính trong trận thua 1–3 trước Sabadell.[14] Casemiro có trận ra mắt tại La Liga vào ngày 20 tháng 4, thi đấu trọn 90 phút trong chiến thắng 3–1 trên sân nhà trước Real Betis.[15] Vào ngày 2 tháng 6, anh ghi bàn thắng đầu tiên tại đấu trường châu Âu, mở tỷ số trong chiến thắng 4–0 của đội dự bị trước Alcorcón tại sân vận động Alfredo Di Stéfano.[16] Tám ngày sau bàn thắng đầu tiên của anh cho Real Madrid Castilla, thương vụ chuyển nhượng chính thức được hoàn tất với thời hạn bốn năm và mức phí chuyển nhượng là 18,738 triệu reais.[17][18][19]
Casemiro được cho Porto mượn vào ngày 19 tháng 7 năm 2014 theo dạng cho mượn cho đến hết mùa giải 2014–15.[20] Anh đã ra sân tổng cộng 41 trận cho câu lạc bộ Bồ Đào Nha và ghi được 4 bàn thắng,[21] bao gồm một quả đá phạt trực tiếp vào ngày 10 tháng 3 năm 2015 trong chiến thắng 4–0 trên sân nhà trước Basel tại vòng 16 đội UEFA Champions League 2014–15.[22]
2015–2016: Trở thành lựa chọn số 1
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 5 tháng 6 năm 2015, Casemiro trở lại Real Madrid, đội bóng đã kích hoạt điều khoản mua lại của anh,[23] và hai tháng sau, hợp đồng của anh được gia hạn đến năm 2021.[24]Vào ngày 13 tháng 3 năm 2016, anh ghi bàn thắng đầu tiên trong một trận đấu chính thức cho Đội bóng Hoàng gia bằng một pha đánh đầu ghi bàn từ quả phạt góc ở phút 89 do Jesé thực hiện trong chiến thắng 2–1 trước Las Palmas.[25] Sau khi chủ yếu là cầu thủ dự bị dưới thời Rafael Benítez, Casemiro trở thành lựa chọn số một dưới thời huấn luyện viên kế nhiệm là Zinedine Zidane,[26] và có cho mình 11 lần ra sân tại UEFA Champions League 2015–16. Trong trận chung kết gặp Atlético Madrid, anh đã thi đấu trọn vẹn 120 phút khi mà tỷ số chung cuộc sau hiệp phụ hòa 1–1, qua đó giúp Real Madrid giành chức vô địch Champions League lần thứ 11 sau khi loạt sút luân lưu khép lại.[27]
2016–2022: Thành công rực rỡ và sự ra đi
[sửa | sửa mã nguồn]Casemiro ghi bốn bàn thắng trong 25 trận đấu tại mùa giải La Liga 2016–17, giúp đội bóng của anh giành chức vô địch giải đấu này lần đầu tiên sau năm năm chờ đợi.[28][29] Sau đó, anh ghi một bàn thắng bằng một cú sút xa trong trận chung kết Champions League gặp Juventus, giúp đội bóng của anh giành chiến thắng chung cuộc 4–1.[30] Anh tiếp tục lập công vào ngày 8 tháng 8, giúp đội nhà vuơn lên dẫn trước trong chiến thắng 2–1 trước Manchester United trong trận Siêu cúp bóng đá châu Âu 2017.[31]
Trong mùa giải Champions League 2017–18, Casemiro đã ra sân 12 trận và ghi được 1 bàn thắng,[32] giúp Real Madrid giành chức vô địch Champions League lần thứ ba liên tiếp và lần thứ 13 trong lịch sử giải đấu này.[33] Anh thường xuyên đá chính trong mùa giải đó, khi Real Madrid cũng đã giành chức vô địch La Liga 2019–20.[34] Vào tháng 8 năm 2021, anh gia hạn hợp đồng đến tháng 6 năm 2025.[35] Casemiro là cầu thủ đá chính cho Real Madrid trong trận chung kết sau khi họ giành chức vô địch giải đấu này lần thứ 14. Anh được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận, khi Real Madrid đánh bại Eintracht Frankfurt 2–0 để ẵm trọn danh hiệu Siêu cúp bóng đá châu Âu 2022.[36]
Manchester United
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 19 tháng 8 năm 2022, Real Madrid và Manchester United thông báo đã đạt được thỏa thuận chuyển nhượng Casemiro.[37][38] Ba ngày sau, anh ký hợp đồng bốn năm với câu lạc bộ đến từ nước Anh này, kèm điều khoản gia hạn thêm một năm.[39] Thương vụ này được cho là trị giá 60 triệu bảng Anh, cộng thêm 10 triệu bảng Anh tiền thưởng.[40] Sau đó, có thông tin cho rằng Casemiro đã nói với người đại diện của mình rằng hãy chuyển lời đến Manchester United rằng anh sẽ giúp họ lấy lại phong độ sau trận thua 0–4 trước Brentford, và nói thêm: "Hãy nói với họ rằng tôi sẽ khắc phục được vấn đề này."[41] Anh ra mắt câu lạc bộ khi vào sân từ băng ghế dự bị trong trận thắng tại Premier League trên sân khách trước Southampton vào ngày 27 tháng 8.[42] Vào ngày 22 tháng 10, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên tại Ngoại hạng Anh, đó là một bàn thắng gỡ hòa ở phút cuối bằng một cú đánh đầu trong trận hòa 1–1 trên sân khách trước câu lạc bộ Chelsea.[43]
Vào tháng 1, Casemiro đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ huấn luyện viên Erik ten Hag, người đã nhận xét anh rằng: "Casemiro thật tuyệt vời. Ở phía trước hàng phòng ngự, cậu ấy luôn chọn được vị trí tốt, cả trong và ngoài khu vực phòng ngự. Và cậu ấy có thể xử lý bóng, có thể chuyền bóng chính xác. Vì vậy, cậu ấy có thể đẩy nhanh nhịp độ trận đấu và nếu cần, cậu ấy có thể ghi bàn."[44] Vào ngày 4 tháng 2, Casemiro đã phải nhận thẻ đỏ vì hành vi bạo lực trong trận đấu với Crystal Palace khi dùng tay bóp cổ Will Hughes trong một cuộc đối đầu mà Antony và Jeffrey Schlupp cũng đã phải nhận thẻ vàng. Điều này dẫn đến án treo giò ba trận ở giải quốc nội; United sau đó đã giành thắng trong trận đấu đó với tỷ số 2–1.[45] Vào ngày 26 tháng 2, Man Utd đã giành chức vô địch EFL Cup, danh hiệu đầu tiên của anh tại câu lạc bộ và là danh hiệu đầu tiên của United kể từ khi giành được chức vô địch UEFA Europa League 2016–17, với việc Casemiro ghi bàn mở tỷ số ở phút thứ 33 trong chiến thắng 2–0 trước Newcastle United ở trận chung kết Cúp EFL 2023. Màn trình diễn của anh cũng giúp anh giành được giải thưởng cúp Alan Hardaker. Vào ngày 12 tháng 3, anh nhận thêm một thẻ đỏ nữa vì một pha phạm lỗi với Carlos Alcaraz trong trận đấu với Southampton, nơi mà trọng tài Anthony Taylor đã đảo ngược quyết định thẻ vàng ban đầu thành thẻ đỏ trực tiếp sau khi xem qua VAR, và anh nhận án treo giò bốn trận; sau đó Man Utd đã hòa trận đấu với tỷ số 0–0.[46] Casemiro cũng là cầu thủ duy nhất trong mùa giải 2022–23 nhận 2 thẻ đỏ, và là cầu thủ duy nhất của Manchester United nhận thẻ đỏ trong mùa giải đó.[47]
Vào ngày 20 tháng 9 năm 2023, Casemiro đã lập một cú đúp trong trận thua 3–4 trước Bayern Munich trong lần ra sân thứ 100 của anh tại các giải đấu châu Âu, trong trận đấu mở màn mùa giải 2023–24 của Champions League.[48]
Vào ngày 1 tháng 9 năm 2024, trong trận đấu trên sân nhà gặp Liverpool, Casemiro đã mắc hai sai lầm trong hiệp một, cả hai đều dẫn đến bàn thắng của đối phương. Anh bị thay ra ở giờ nghỉ giữa hiệp và bị các bình luận viên chỉ trích nặng nề vì màn trình diễn tệ hại của mình.[49][50] Vào ngày 27 tháng 10, anh ghi bàn thắng đầu tiên của mùa giải 2024–25 trong trận đấu với West Ham United khi đội bóng của anh đã để thua với tỷ số 1–2, sau đó, huấn luyện viên trưởng Erik ten Hag bị sa thải sau khi chưa đầy 24 giờ trận đấu kết thúc.[51][52]
Vào ngày 22 tháng 1 năm 2026, Manchester United chính thức thông báo rằng Casemiro sẽ rời câu lạc bộ sau khi mùa giải 2025–26 kết thúc, theo thỏa thuận chung về việc không gia hạn hợp đồng.[53][54] Mặc dù câu lạc bộ quyết định chia tay để đảm bảo sự bền vững về tài chính, Casemiro vẫn là một nhân vật quan trọng trong đội hình. Sau chiến thắng 3–1 trước Aston Villa tại Old Trafford, các cổ động viên chủ nhà đã thể hiện sự ủng hộ bằng cách hô vang Thêm một năm nữa, Casemiro, tha thiết kêu gọi tiền vệ này gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ.[55]
Sự nghiệp quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]Các đội tuyển trẻ
[sửa | sửa mã nguồn]Casemiro ghi được một bàn thắng trong bảy lần ra sân cho đội tuyển bóng đá U-17 quốc gia Brasil.[56] Anh đã thi đấu cho đội tuyển U-20 Brasil tại Giải vô địch bóng đá U-20 Nam Mỹ 2011 và Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2011,[57] ghi được ba bàn thắng trong tổng cộng 15 lần ra sân ở cấp độ này.[56]
Đội tuyển chính thức
[sửa | sửa mã nguồn]
Casemiro cá trận đấu ra mắt đội tuyển quốc gia Brasil vào ngày 14 tháng 9 năm 2011, trong trận hòa 0–0 với Argentina, khi đó anh mới 19 tuổi.[58] Anh được huấn luyện viên Dunga triệu tập vào đội tuyển Brasil tham dự Cúp bóng đá Nam Mỹ 2015, nhưng không ra sân trận nào trong vòng tứ kết sau khi bị loại bởi Chile.[59]
Vào ngày 5 tháng 5 năm 2016, Casemiro được điền tên vào danh sách 23 cầu thủ tham dự Cúp bóng đá Nam Mỹ 2016 được tổ chức tại Hoa Kỳ.[60]
Vào tháng 5 năm 2018, Casemiro được huấn luyện viên Tite chọn vào danh sách đội tuyển tham dự FIFA World Cup 2018 tại Nga.[61] Anh ra mắt giải đấu vào ngày 17 tháng 6, thi đấu 60 phút trong trận hòa 1–1 ở vòng bảng gặp Thụy Sĩ.[62]
Vào tháng 5 năm 2019, Casemiro được triệu tập vào đội hình 23 cầu thủ của Brasil tham dự Cúp bóng đá Nam Mỹ 2019 trên sân nhà.[63] Trong trận đấu cuối cùng vòng bảng tại Arena Corinthians gặp Perú, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển quốc gia, mở tỷ số trong chiến thắng 5–0 của đội tuyển, nhưng cũng bị truất quyền thi đấu vì đã nhận hai thẻ vàng và bị treo giò trong trận đấu tiếp theo.[64] Anh được tin tưởng đá chính trong trận chung kết Cúp bóng đá Nam Mỹ 2019, trận đấu mà Brasil đã giành chiến thắng với tỷ số 3–1 trước Perú vào ngày 7 tháng 7 tại sân vận động Maracanã.[65]
Casemiro được triệu tập vào đội tuyển Brasil tham dự Cúp bóng đá Nam Mỹ 2021 vào ngày 9 tháng 6 năm 2021.[66] Trong trận đấu thứ ba vòng bảng của Brasil vào ngày 23 tháng 6, anh đã ghi bàn thắng quyết định sau một quả phạt góc của Neymar ở phút bù giờ, giúp đội nhà đánh bại Colombia với tỷ số 2–1.[67] Vào ngày 10 tháng 7, anh đá chính trong trận thua 0–1 của Brasil trước kình địch Argentina ở trận chung kết.[68]
Vào ngày 7 tháng 11 năm 2022, Casemiro được triệu tập vào đội tuyển tham dự FIFA World Cup 2022 diễn ra tại Qatar.[69] Ngày 28 tháng 11, anh ghi bàn thắng quyết định trong trận đấu thứ hai vòng bảng gặp Thụy Sĩ.[70] Brasil bị loại ở tứ kết bởi Croatia vào ngày 9 tháng 12, sau khi thất bại với tỷ số 2–4 trong loạt sút luân lưu sau khi đã hòa 1–1 ở hiệp phụ, mặc dù Casemiro đã thực hiện thành công cú sút phạt đền của mình trong loạt sút đó.[71]
Vào ngày 26 tháng 5 năm 2025, huấn luyện viên mới được bổ nhiệm của đội tuyển Brasil, Carlo Ancelotti, đã công bố đội hình chuẩn bị cho vòng loại FIFA World Cup 2026 gặp Ecuador và Paraguay, trong đó có Casemiro, đánh dấu sự trở lại của tiền vệ này trong đội tuyển quốc gia sau hai năm vắng bóng.[72][73]
Phong cách chơi bóng
[sửa | sửa mã nguồn]Casemiro chủ yếu chơi ở vị trí tiền vệ phòng ngự,[74] mặc dù anh cũng từng được bố trí chơi ở vị trí tiền vệ trụ ở trung tâm hàng công,[75][76] hoặc ở vị trí trung vệ.[77] Anh là một tiền vệ thông minh, thể lực tốt, nhanh nhẹn, quyết đoán và mạnh mẽ trong tranh chấp bóng, với cường độ làm việc cực cao và kỹ thuật tốt.[78][76][79][80] Mặc dù Casemiro chủ yếu được biết đến với khả năng tạo sự cân bằng cho đội bóng bằng cách hỗ trợ các đồng đội có xu hướng tấn công hơn trong phòng ngự và chuyền bóng chính xác sau khi giành lại quyền kiểm soát bóng, anh cũng là một tiền vệ toàn diện, sở hữu cú sút mạnh từ ngoài vòng cấm và khả năng chuyền bóng đáng tin cậy, cũng như khả năng dâng cao tấn công không bóng hoặc khởi xướng các đợt tấn công bằng những đường chuyền của mình. Những đặc điểm này cũng cho phép anh đóng góp vào tấn công, thậm chí ghi bàn, ngoài việc bẻ gãy các pha tấn công của đối phương.[76][81][82][83][84][85] Hơn nữa, khả năng phản xạ nhanh nhạy, cùng với khả năng phán đoán vị trí xuất sắc, khả năng đọc trận đấu và khả năng dự đoán tốt, cho phép anh ấy tỏa sáng trong vai trò tiền vệ phòng ngự trước hàng thủ, bằng cách ngăn chặn các pha phản công và bảo vệ tuyến sau.[76][78][86][87][88]
Thường được truyền thông mô tả là "kẻ hủy diệt không gian",[89] Casemiro đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ các chuyên gia nhờ lối chơi đầy năng lượng và quyết liệt của mình,[90][91][92] cũng như khả năng nhận thức chiến thuật và kỹ năng tranh chấp bóng, giúp anh bao quát khu vực, lùi về phòng ngự và gây áp lực lên đối thủ.[81][85][87][93][94][95] Sự bền bỉ của anh trên sân cỏ, thể hiện qua những pha tắc bóng quyết liệt và sức bền đáng nể,[96] đã khiến tờ Marca đặt cho anh biệt danh "Xe tăng".[97] Bên cạnh khả năng đá bóng, Casemiro còn nổi bật ở tinh thần cạnh tranh, bản lĩnh, sự ổn định và quyết tâm trên sân cỏ.[78][98] Mặc dù duy trì kỷ luật tốt, anh đôi khi cũng bị truyền thông chỉ trích vì những pha phạm lỗi quá hung hăng trên sân.[99] Phong cách chơi bóng của Casemiro cũng được so sánh với cựu tiền vệ phòng ngự của Real Madrid, Claude Makélélé,[78] cũng như với người đồng hương Toninho Cerezo.[83]
Chủ sở hữu câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 4 tháng 6 năm 2024, có thông báo rằng Casemiro sẽ trở thành chủ sở hữu của câu lạc bộ hạng hai của Tây Ban Nha là Marbella.[100][101]
Thống kê sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]- Tính đến 17 tháng 5 năm 2026
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Giải đấu cấp bang[a] | Cúp quốc gia[b] | Cúp liên đoàn[c] | Châu lục | Khác | Tổng cộng | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| São Paulo | 2010[102] | Série A | 18 | 2 | 0 | 0 | — | — | 0 | 0 | — | 18 | 2 | |||
| 2011[102] | 21 | 4 | 12 | 1 | 5 | 1 | — | 2[d] | 0 | — | 40 | 6 | ||||
| 2012[102] | 22 | 0 | 18 | 2 | 9 | 1 | — | 1[d] | 0 | — | 50 | 3 | ||||
| 2013[102] | — | 1 | 0 | — | — | 2[e] | 0 | — | 3 | 0 | ||||||
| Tổng cộng | 61 | 6 | 31 | 3 | 14 | 2 | — | 5 | 0 | — | 111 | 11 | ||||
| Real Madrid Castilla (mượn) | 2012–13[102] | Segunda División | 15 | 1 | — | — | — | — | — | 15 | 1 | |||||
| Real Madrid (mượn) | 2012–13[102] | La Liga | 1 | 0 | — | 0 | 0 | — | 0 | 0 | — | 1 | 0 | |||
| Real Madrid | 2013–14[102] | 12 | 0 | — | 7 | 0 | — | 6[f] | 0 | — | 25 | 0 | ||||
| 2015–16[102] | 23 | 1 | — | 1 | 0 | — | 11[f] | 0 | — | 35 | 1 | |||||
| 2016–17[102] | 25 | 4 | — | 5 | 0 | — | 9[f] | 2 | 3[g] | 0 | 42 | 6 | ||||
| 2017–18[102] | 30 | 5 | — | 1 | 0 | — | 12[f] | 1 | 5[h] | 1 | 48 | 7 | ||||
| 2018–19[102] | 29 | 3 | — | 5 | 0 | — | 6[f] | 1 | 3[g] | 0 | 43 | 4 | ||||
| 2019–20[102] | 35 | 4 | — | 1 | 0 | — | 8[f] | 1 | 2[i] | 0 | 46 | 5 | ||||
| 2020–21[102] | 34 | 6 | — | 1 | 0 | — | 10[f] | 1 | 1[i] | 0 | 46 | 7 | ||||
| 2021–22[102] | 32 | 1 | — | 3 | 0 | — | 11[f] | 0 | 2[i] | 0 | 48 | 1 | ||||
| 2022–23[102] | 1 | 0 | — | — | — | — | 1[j] | 0 | 2 | 0 | ||||||
| Tổng cộng | 222 | 24 | — | 24 | 0 | — | 73 | 6 | 17 | 1 | 336 | 31 | ||||
| Porto (mượn) | 2014–15[102][103] | Primeira Liga | 28 | 3 | — | 1 | 0 | 2 | 0 | 10[f] | 1 | — | 41 | 4 | ||
| Manchester United | 2022–23[104] | Premier League | 28 | 4 | — | 5 | 2 | 6 | 1 | 12[k] | 0 | — | 51 | 7 | ||
| 2023–24[105] | 25 | 1 | — | 3 | 1 | 2 | 1 | 2[f] | 2 | — | 32 | 5 | ||||
| 2024–25[106] | 24 | 1 | — | 2 | 0 | 2 | 2 | 13[k] | 2 | 1[l] | 0 | 42 | 5 | |||
| 2025–26[107] | 34 | 9 | — | 1 | 0 | 0 | 0 | — | — | 35 | 9 | |||||
| Tổng cộng | 111 | 15 | — | 11 | 3 | 10 | 4 | 27 | 4 | 1 | 0 | 160 | 26 | |||
| Tổng cộng sự nghiệp | 437 | 49 | 31 | 3 | 50 | 5 | 12 | 4 | 115 | 11 | 18 | 1 | 663 | 73 | ||
- ↑ Bao gồm Campeonato Paulista
- ↑ Bao gồm Copa do Brasil, Copa del Rey, Taça de Portugal, FA Cup
- ↑ Bao gồm Taça da Liga, EFL Cup
- 1 2 Số lần ra sân tại Copa Sudamericana
- ↑ Số lần ra sân tại Copa Libertadores
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Số lần ra sân tại UEFA Champions League
- 1 2 Một lần ra sân tại UEFA Super Cup, hai lần ra sân tại FIFA Club World Cup
- ↑ Một lần ra sân và một bàn thắng tại UEFA Super Cup, hai lần ra sân tại Supercopa de España, hai lần ra sân tại FIFA Club World Cup
- 1 2 3 Số lần ra sân tại Supercopa de España
- ↑ Ra sân tại UEFA Super Cup
- 1 2 Số lần ra sân tại UEFA Europa League
- ↑ Ra sân tại FA Community Shield
Quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]- Tính đến 5 tháng 7 năm 2026[108]
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Brasil | 2011 | 1 | 0 |
| 2012 | 4 | 0 | |
| 2013 | 0 | 0 | |
| 2014 | 2 | 0 | |
| 2015 | 2 | 0 | |
| 2016 | 4 | 0 | |
| 2017 | 7 | 0 | |
| 2018 | 12 | 0 | |
| 2019 | 14 | 3 | |
| 2020 | 2 | 0 | |
| 2021 | 11 | 1 | |
| 2022 | 10 | 2 | |
| 2023 | 6 | 1 | |
| 2024 | 0 | 0 | |
| 2025 | 7 | 1 | |
| 2026 | 9 | 2 | |
| Tổng cộng | 91 | 10 | |
- Tính đến 5 tháng 7 năm 2026
- Bàn thắng của Brasil được liệt kê đầu tiên, cột điểm số cho biết tỉ số sau mỗi bàn thắng của Casemiro[108]
| No. | Ngày | Địa điểm | Trận | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 22 tháng 6 năm 2019 | Arena Corinthians, São Paulo, Brasil | 39 | 1–0 | 5–0 | Cúp bóng đá Nam Mỹ 2019 | |
| 2 | 6 tháng 9 năm 2019 | Sân vận động Hard Rock, Miami Gardens, Hoa Kỳ | 42 | 1–0 | 2–2 | Giao hữu | |
| 3 | 13 tháng 10 năm 2019 | Sân vận động Quốc gia, Singapore | 45 | 1–1 | 1–1 | ||
| 4 | 23 tháng 6 năm 2021 | Sân vận động Olympic Nilton Santos, Rio de Janeiro, Brasil | 52 | 2–1 | 2–1 | Cúp bóng đá Nam Mỹ 2021 | |
| 5 | 27 tháng 1 năm 2022 | Sân vận động Rodrigo Paz Delgado, Quito, Ecuador | 60 | 1–0 | 1–1 | Vòng loại FIFA World Cup 2022 | |
| 6 | 28 tháng 11 năm 2022 | Sân vận động 974, Doha, Qatar | 67 | 1–0 | 1–0 | FIFA World Cup 2022 | |
| 7 | 25 tháng 3 năm 2023 | Sân vận động Ibn Batouta, Tangier, Maroc | 70 | 1–1 | 1–2 | Giao hữu | |
| 8 | 15 tháng 11 năm 2025 | Sân vận động Emirates, Luân Đôn, Anh | 81 | 2–0 | 2–0 | ||
| 9 | 31 tháng 5 năm 2026 | Sân vận động Maracanã, Rio de Janeiro, Brasil | 85 | 2–1 | 6–2 | ||
| 10 | 29 tháng 6 năm 2026 | Sân vận động NRG, Houston, Hoa Kỳ | 90 | 1–1 | 2–1 | FIFA World Cup 2026 |
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]São Paulo
Real Madrid
- La Liga: 2016–17,[110] 2019–20,[111] 2021–22[112]
- Copa del Rey: 2013–14[113]
- Supercopa de España: 2017,[114] 2020,[115] 2022[116]
- UEFA Champions League: 2013–14,[117] 2015–16,[118] 2016–17,[119] 2017–18,[120] 2021–22[121]
- UEFA Super Cup: 2016,[122] 2017,[123] 2022[124]
- FIFA Club World Cup: 2016,[125] 2017,[126] 2018[127]
Manchester United
U-17 Brasil
U-20 Brasil
Brasil
Cá nhân
- Đội hình xuất sắc nhất mùa giải UEFA Champions League: 2016–17,[130] 2017–18[131]
- Đội hình xuất sắc nhất mùa giải của La Liga bởi UEFA: 2019–20[132]
- Đội hình xuất sắc nhất giải Cúp bóng đá Nam Mỹ: 2021[133]
- Cúp EFE: 2019–20[134]
- Cúp Alan Hardaker: 2023[135]
- FIFPRO Men's World 11: 2022[136]
- Đội hình xuất sắc nhất mùa giải UEFA Europa League: 2024–25[137]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 "FIFA World Cup Qatar 2022™ – Squad List: Brazil (BRA)" (PDF). FIFA. ngày 18 tháng 12 năm 2022. tr. 4. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Casemiro Manchester United Midfielder, Profile & Stats | Premier League" (bằng tiếng Anh). Premier League. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2025.
- ↑ ""Aonde você vai, Casemiro?" A história do segredo mais bem guardado do Real Madrid" ["Where are you going, Casemiro?" The story of Real Madrid's best kept secret]. El País (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 4 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2017.
- ↑ Kunti, Samindra. "Casemiro Exclusive: Brazil Star on His Evolution at Porto and Copa America Hopes". Bleacher Report. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Casemiro to return to Real after Porto loan". ESPN. ngày 5 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Winehouse, Amitai (ngày 22 tháng 8 năm 2022). "Man Utd unveil Casemiro as midfielder targets trophies". The New York Times. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Brazil: the talent factory 2010 featuring Eron, Casemiro, Lucas Moura, Alan Patrick, Bernardo, Elkeson and Neto Berola". Pitaco do Gringo. ngày 20 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
- ↑ "Casemiro & Neymar, forever rivals". FIFA. ngày 12 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "11 jogadores que 'mudaram de nome' durante a carreira" [11 players who "changed names" during their careers] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Universo Online. ngày 15 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2016.
- ↑ "No finzinho, São Paulo empata com o Cruzeiro em ótimo jogo no Morumbi" [In the very end, São Paulo draw with Cruzeiro in great game at the Morumbi] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Globo Esporte. ngày 15 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "Líder, São Paulo freia Mogi Mirim e completa dez vitórias seguidas" [Leaders, São Paulo halt Mogi Mirim and complete ten consecutive victories]. Veja (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Abril Comunicações. ngày 7 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2018.
- ↑ "Sao Paulo terminó con el sueño de U. de Chile en la Copa Sudamericana" [São Paulo ended the dream of U. de Chile in the South American Cup] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Radio Cooperativa. ngày 7 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "São Paulo empresta Casemiro ao Real Madrid, e volante começará no time B" [São Paulo loan Casemiro to Real Madrid, and holding midfielder will start in B team]. Lance! (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 31 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "3–1: Aníbal lidera la victoria del Sabadell ante el Castilla" [3–1: Aníbal leads Sabadell win against Castilla]. Mundo Deportivo (bằng tiếng Tây Ban Nha). Barcelona. ngày 16 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "Ozil at the double for faltering Real". ESPN FC. ngày 20 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013.
- ↑ Jiménez, Rubén (ngày 2 tháng 6 năm 2013). "Fiesta de graduación del Castilla que complica al Alcorcon" [Castilla graduation party makes life harder for Alcorcón]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Madrid. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Madrid announce Casemiro deal". ESPN FC. ngày 10 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "Real Madrid anuncia oficialmente a compra de Casemiro" [Real Madrid officially announce purchase of Casemiro]. Gazeta Esportiva (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 10 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013.
- ↑ "Relatório da diretoria 2013" [Directorial report 2013] (PDF) (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo FC. ngày 18 tháng 4 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Official announcement: Casemiro". Real Madrid CF. ngày 19 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.
- ↑ "Ex-FC Porto Casemiro é o exemplo de Lucas Silva" [Former FC Porto man Casemiro is Lucas Silva's model]. O Jogo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Porto. ngày 13 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Yacine Brahimi and Casemiro turn on the style to help Porto defeat Basel". The Guardian. London. ngày 10 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Official announcement: Casemiro". Real Madrid CF. ngày 5 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Official announcement: Casemiro". Real Madrid CF. ngày 31 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015.
- ↑ "Las Palmas 1–2 Real Madrid". BBC Sport. ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "La diferencia es Casemiro" [Casemiro is the difference]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Madrid. ngày 3 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "Spot-on Real Madrid defeat Atlético in final again". UEFA. ngày 28 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "El Real Madrid, campeón de LaLiga Santander 2016/17" [Real Madrid, LaLiga Santander champions 2016/17] (bằng tiếng Tây Ban Nha). La Liga. ngày 21 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
- ↑ "Malaga 0–2 Real Madrid". BBC Sport. ngày 21 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
- ↑ "Majestic Real Madrid win Champions League in Cardiff". UEFA. ngày 3 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "Isco goal gives Real Madrid victory over Manchester United in Super Cup". The Guardian. London. ngày 8 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "Así llegan Real Madrid y Liverpool a la final de la Champions" [That is how Real Madrid and Liverpool arrive to the Champions final] (bằng tiếng Tây Ban Nha). RCN Radio. ngày 25 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Madrid beat Liverpool to complete hat-trick". UEFA. ngày 26 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Real Madrid win the longest LaLiga Santander season". Marca. Madrid. ngày 17 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Official Announcement: Casemiro". Real Madrid CF. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Real Madrid 2–0 Frankfurt: Five-star Madrid triumph in Helsinki". UEFA. ngày 10 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Official Announcement: Casemiro". Real Madrid CF. ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "United reach agreement for Casemiro transfer". Manchester United F.C. ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Casemiro signs for Manchester United". Manchester United F.C. ngày 22 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Casemiro: Manchester United agree £70m deal to sign Real Madrid midfielder". BBC Sport. ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "'Tell them I'll fix it' – Casemiro sent message to agent as he watched 4–0 Brentford defeat and stayed true to promise by transforming Manchester United midfield". TalkSport. ngày 13 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 27 tháng 8 năm 2022). "Southampton 0–1 Man Utd: Bruno Fernandes scores only goal at St Mary's to end dismal away run". BBC Sport. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2022.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 22 tháng 10 năm 2022). "Chelsea 1–1 Man Utd: Hosts remain above United after dramatic finale". BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2022.
- ↑ "Erik ten Hag reacts to Manchester United versus Reading". 90min. ngày 28 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
- ↑ Stone, Simon (ngày 4 tháng 2 năm 2023). "Manchester United 2–1 Crystal Palace: Marcus Rashford helps hosts to 13th straight home win". BBC Sport. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2023.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 12 tháng 3 năm 2023). "Man Utd 0–0 Southampton: Saints earn draw against 10-man Man Utd". BBC Sport. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Premier League Player Stats". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Bayern Munich 4–3 Man Utd: Player ratings as Champions League clash produces seven-goal thriller". 90min.com. ngày 20 tháng 9 năm 2023.
- ↑ Hytner, David (ngày 1 tháng 9 năm 2024). "Luis Díaz strikes twice as dominant Liverpool win at Manchester United". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2024.
- ↑ Smith, George; Killen, Stephen; Flintham, Jack (ngày 1 tháng 9 năm 2024). "Gary Neville delivers scathing Casemiro Man United verdict after Liverpool goal". Manchester Evening News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2024.
- ↑ "Late Bowen penalty gives West Ham win against Man Utd". BBC. ngày 28 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Man United sack Erik ten Hag; Ruud van Nistelrooy interim". ESPN. ngày 28 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Casemiro to leave United this summer". www.manutd.com (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Crafton, Adam; Critchley, Mark; Cortegana, Mario (ngày 22 tháng 1 năm 2026). "Casemiro to leave Manchester United at end of season". The Athletic. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Stone, Simon (ngày 16 tháng 3 năm 2026). "Man Utd not planning U-turn on Casemiro decision". BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 "Casemiro". besoccer.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Casemiro: We're gunning for the title". FIFA. ngày 22 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2011.
- ↑ "Bolas na trave não resolvem: Brasil e Argentina ficam no zero em Córdoba" [Balls in the bar do not solve it: Brazil and Argentina stay blank in Córdoba] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Globo Esporte. ngày 14 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "Oscar left out of Brazil's Copa America squad". Goal. ngày 5 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Dunga convoca Seleção para a Copa América com 7 jogadores olímpicos" [Dunga calls up Seleção to the Copa América with seven Olympic players] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Globo Esporte. ngày 5 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "World Cup: Neymar named in Brazil's 23-man squad". BBC Sport. ngày 14 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2018.
- ↑ Reddy, Luke (ngày 17 tháng 6 năm 2018). "Brazil 1–1 Switzerland". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Brazil name Copa America squad". Football Italia. Tiro Media. ngày 17 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2019.
- ↑ Clancy, Conor (ngày 22 tháng 6 năm 2019). "Casemiro suspended for Brazil's Copa America quarter-final". Marca. Madrid. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019.
- ↑ Smyth, Rob (ngày 7 tháng 7 năm 2019). "Brazil 3–1 Peru". The Guardian. London. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "Tite define convocados da Seleção Brasileira para a Copa América 2021" (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Confederação Brasileira de Futebol. ngày 9 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "Casemiro gives Brazil controversial win". BBC Sport. ngày 24 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2021.
- ↑ Graham, Bryan Armen (ngày 10 tháng 7 năm 2021). "Argentina 1–0 Brazil: Copa América final – as it happened". The Guardian. London. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "Seleção Brasileira está convocada para a Copa do Mundo FIFA Qatar 2022" (bằng tiếng Bồ Đào Nha). CBF. ngày 7 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Casemiro stunner ends Switzerland resistance to fire Brazil into last 16". The Guardian. London. ngày 28 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "World Cup quarter-final: Croatia 1–1 Brazil (4–2 pens) – as it happened". The Guardian. London. ngày 9 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Carlo Ancelotti é apresentado e anuncia primeira convocação pela Seleção" [Carlo Ancelotti is introduced and announces his first call-up to the National Team] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Confederação Brasileira de Futebol. ngày 26 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Casemiro returns in Ancelotti's first Brazil squad for World Cup qualifiers". Associated Press News (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Downie, Andrew (ngày 29 tháng 6 năm 2018). "Favorites? If you say so: Brazilian midfielder Casemiro". Reuters. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ de Juan, Manu (ngày 7 tháng 11 năm 2017). "Casemiro, more box-to-box than a defensive midfielder". Diario AS. Madrid. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- 1 2 3 4 "Casemiro put on a show for Real Madrid in the Champions League final". Fox Sports. ngày 29 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Bull, J.J. (ngày 13 tháng 9 năm 2017). "Isco is one of the world's best players on current form – what does it mean for Gareth Bale's Real Madrid career?". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- 1 2 3 4 Lowe, Sid (ngày 26 tháng 4 năm 2016). "Casemiro: from 'chubby' sub to the rock on whom Real Madrid now depend". The Guardian. London. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "Casemiro a Real hero, Messi inspires Barca, Atleti joy, Aspas' derby delight". ESPN. ngày 20 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Terroba, Patricia (ngày 2 tháng 4 năm 2017). "The Casemiro syndrome". Marca. Madrid. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- 1 2 Train, Rob (ngày 14 tháng 8 năm 2017). "Well-rounded Casemiro quickly becoming indispensable for Real Madrid". ESPN. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ De la Riva, Mario (ngày 18 tháng 8 năm 2019). "Real Madrid: Player-by-player verdicts as Celta Vigo beaten". Diario AS. Madrid. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- 1 2 Gatto, Riccardo (ngày 31 tháng 12 năm 2011). "San Paolo, Cunha: "Casemiro? Al momento..."" [San Paolo, Cunha: "Casemiro? At the moment..."] (bằng tiếng Ý). tuttomercatoweb.com. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Gasparotto, Manlio (ngày 17 tháng 8 năm 2011). "Mondiale U20, occhio a Casemiro "Faccio tutto, difesa e attacco"" [U20 World Cup, look out for Casemiro "I do everything, defence and attack"]. La Gazzetta dello Sport (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
- 1 2 Matchett, Karl (ngày 22 tháng 5 năm 2017). "Ranking Every Player for Real Madrid in 2016/17 Campaign". Bleacher Report. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Cox, Michael (ngày 22 tháng 2 năm 2019). "Fernandinho and Casemiro lead the game's most underrated midfielders". ESPN. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- 1 2 Roncero, Tomás (ngày 9 tháng 3 năm 2016). "The Casemiro effect". Diario AS. Madrid. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Sobhani, Kiyan (ngày 26 tháng 9 năm 2019). "Real Madrid Have Suddenly Become Defensively Compact – Good Timing Heading into The Madrid Derby". MSN. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Siguero, Santiago (ngày 10 tháng 8 năm 2017). "Real Madrid's dynamic midfield core". Marca. Madrid. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Alvarez, Eduardo (ngày 26 tháng 10 năm 2015). "Casemiro's emergence is a credit to the player and his manager". ESPN. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Haugstad, Thore (ngày 1 tháng 4 năm 2016). "The Casemiro conundrum: how much should Real Madrid value grit over quality?". FourFourTwo. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Train, Rob (ngày 21 tháng 8 năm 2016). "Toni Kroos stands out for Real Madrid in dominant outing vs. La Real". ESPN. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Sanchidrián Seguir, David F. (ngày 26 tháng 1 năm 2019). "Casemiro: 93 passes with 92% accuracy rate". Diario AS. Madrid. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Matchett, Karl (ngày 3 tháng 5 năm 2016). "La Liga Team of the Week: Ivan Rakitic, Angel Correa and Casemiro Impress". Bleacher Report.
- ↑ García, Javier (ngày 1 tháng 3 năm 2018). "Casemiro, Madrid's standout ball-winner". Real Madrid CF. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Polo, Pablo; Whelan, Padraig (ngày 4 tháng 6 năm 2017). "Three out of three for Casemiro in the Champions League". Marca. Madrid. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "Casemiro: Madrid owed fans". Football España. ngày 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Polo, Pablo; Friend, Robson (ngày 21 tháng 7 năm 2017). "Indispensable Casemiro ready to fight off competitors". Marca. Madrid. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "Casemiro: "No cambiaré, en 100 partidos no me han expulsado..."" [Casemiro: "I won't change, in 100 matches they haven't sent me off..."]. Diario AS (bằng tiếng Tây Ban Nha). Madrid. ngày 18 tháng 5 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019.
- ↑ Cariño, Carlos (ngày 4 tháng 6 năm 2024). "Casemiro se une al Marbella" (bằng tiếng Tây Ban Nha). as.com.
- ↑ "Casemiro becomes Marbella FC shareholder". BBC Sport. ngày 4 tháng 6 năm 2024.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 "Casemiro: Summary". Soccerway. Perform Group. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ For Taça de Portugal third round: "FC Porto 1–3 Sporting". SAPO Desporto (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Trận thi đấu của Casemiro trong 2022/2023". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Trận thi đấu của Casemiro trong 2023/2024". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Trận thi đấu của Casemiro trong 2024/2025". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Trận thi đấu của Casemiro trong 2025/2026". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
- 1 2 "Casemiro: Internationals". worldfootball.net. HEIM:SPIEL. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "De Madri a Itabaiana: o destino dos campeões de 2010 pelo São Paulo". GloboEsporte (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 24 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Real Madrid 2016–17: Squad". BDFutbol. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Real Madrid 2019–20: Squad". BDFutbol. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Real Madrid 2021–22: Squad". BDFutbol. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Acta del Partido celebrado el 16 de abril de 2014, en Valencia" [Minutes of the Match held on 16 April 2014, in Valencia] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Acta del Partido celebrado el 13 de agosto de 2017, en Barcelona" [Minutes of the Match held on 13 August 2017, in Barcelona] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
"Acta del Partido celebrado el 16 de agosto de 2017, en Madrid" [Minutes of the Match held on 16 August 2017, in Madrid] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022. - ↑ "Acta del Partido celebrado el 12 de enero de 2020, en Jeddah, Arabia Saudí" [Minutes of the Match held on 12 January 2020, in Jeddah, Saudi Arabia] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Acta del Partido celebrado el 16 de enero de 2022, en Prince Bandar Ibn Abd Al Aziz, Riad, 13233, Arabia Saudí" [Minutes of the Match held on 16 January 2022, in Prince Bandar Ibn Abd Al Aziz, 13233, Saudi Arabia] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Players with most Champions League titles: Benzema, Carvajal and Modrić equal Cristiano Ronaldo's record". UEFA. ngày 28 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
Kroos and Casemiro actually have five UEFA Champions League titles to their name but took part in only four finals, missing out in 2013 and 2014 respectively, while Bale, Isco and Marcelo have also appeared in four final wins having remained on the bench for the 2022 decider.
- ↑ Johnston, Neil (ngày 28 tháng 5 năm 2016). "Real Madrid 1–1 Atlético Madrid". BBC Sport. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 3 tháng 6 năm 2017). "Juventus 1–4 Real Madrid". BBC Sport. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 26 tháng 5 năm 2018). "Real Madrid 3–1 Liverpool". BBC Sport. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 28 tháng 5 năm 2022). "Liverpool 0–1 Real Madrid". BBC Sport. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Real Madrid 3–2 Sevilla". BBC Sport. ngày 9 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ Jurejko, Jonathan (ngày 8 tháng 8 năm 2017). "Real Madrid 2–1 Manchester United". BBC Sport. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ Bysouth, Alex (ngày 10 tháng 8 năm 2022). "Real Madrid 2–0 Eintracht Frankfurt". BBC Sport. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Match report: Real Madrid, C.F. – Kashima Antlers". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2019.
- ↑ "Real Madrid 1–0 Grêmio". BBC Sport. ngày 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Real Madrid 4–1 Al Ain". BBC Sport. ngày 22 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 26 tháng 2 năm 2023). "Manchester United 2–0 Newcastle United". BBC Sport. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Brazil 3–1 Peru". BBC Sport. ngày 7 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "UEFA Champions League squad of the season". UEFA. ngày 5 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "UEFA Champions League Squad of the Season". UEFA. ngày 27 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "La UEFA se olvida de Oblak en sus equipo ideal de la Liga". Mundo Deportivo. Barcelona. ngày 22 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Uno por uno, el equipo ideal de la CONMEBOL Copa América 2021 elegido por el GET" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Copa América. ngày 13 tháng 7 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "Casemiro awarded EFE Trophy for the Best Ibero-American Player in 2020". Real Madrid CF. ngày 18 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Segar, David (ngày 27 tháng 2 năm 2023). "Casemiro wins the battle of Brazil in midfield as Man Utd edge Newcastle in EFL Cup final". KeepUp.com.au. Australian Professional Leagues Company. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
...man of the match Casemiro largely to thank.
- ↑ "Messi makes World 11 history as Benzema earns maiden inclusion". FIFA. ngày 27 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "2024/25 UEFA Europa League Team of the Season". UEFA. ngày 22 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2025.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Sinh năm 1992
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá nam Brasil
- Tiền vệ bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá São Paulo FC
- Người São Paulo (bang)
- Cầu thủ bóng đá Real Madrid
- Cầu thủ bóng đá FC Porto
- Cầu thủ bóng đá Manchester United F.C.
- Cầu thủ bóng đá Campeonato Brasileiro Série A
- Cầu thủ bóng đá Segunda División
- Cầu thủ bóng đá La Liga
- Cầu thủ Giải bóng đá vô địch quốc gia Bồ Đào Nha
- Cầu thủ bóng đá Premier League
- Cầu thủ vô địch UEFA Champions League
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ quốc gia Brasil
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-20 quốc gia Brasil
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2022
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2026
- Cầu thủ bóng đá nam Brasil ở nước ngoài
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Anh
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Bồ Đào Nha
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Tây Ban Nha