Bước tới nội dung

Cardiff City F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cardiff City
Tập tin:Cardiff City crest.svg
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Cardiff City
Biệt danh
Tên ngắn gọnCAR, CCFC, City
Thành lập1899; 127 năm trước (1899) (với tên gọi Riverside A.F.C.)
SânSân vận động Thành phố Cardiff
Sức chứa33.316[2]
Chủ sở hữuVincent Tan
Chủ tịch điều hànhMehmet Dalman
Huấn luyện viên trưởngBrian Barry-Murphy
Giải đấuChampionship
2025–26League One, hạng 2 trên 24 (thăng hạng)
Websitecardiffcityfc.co.uk
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Cardiff City (tiếng Wales: Clwb Pêl-droed Dinas Caerdydd[3], tiếng Anh: Cardiff City Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Cardiff, Wales. Hiện đội bóng thi đấu tại Championship, cấp độ thứ ba của Hệ thống giải bóng đá Anh trong mùa giải 2025-26 sau khi xuống hạng. Được thành lập vào năm 1899 với tên gọi Riverside A.F.C., câu lạc bộ đổi tên thành Cardiff City vào năm 1908 và gia nhập Southern Football League vào năm 1910 trước khi tham gia English Football League vào năm 1920. Đội bóng đã trải qua 17 mùa giải ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh, với quãng thời gian dài nhất là từ năm 1921 đến năm 1929. Mùa giải gần nhất của Cardiff tại hạng đấu cao nhất là mùa giải Premier League 2018-19.

Cardiff City là đội bóng duy nhất ngoài nước Anh từng vô địch Cúp FA, khi giành danh hiệu này vào năm 1927. Đội bóng cũng từng vào thêm ba trận chung kết cúp khác ở các giải đấu Anh, gồm Chung kết Cúp FA 1925 gặp Sheffield United, Chung kết Cúp FA 2008 gặp PortsmouthChung kết Football League Cup 2012 gặp Liverpool, nhưng đều thất bại. Cardiff từng thi đấu tại Premier League trong hai mùa giải (2013-14 và 2018-19) và chưa từng góp mặt tại UEFA Champions League. Đội bóng đã giành Cúp bóng đá Wales 22 lần, qua đó trở thành đội thành công thứ hai trong lịch sử giải đấu này, chỉ sau Wrexham.

Ngoại trừ một quãng thời gian ngắn trong thế kỉ này, đội bóng mặc trang phục sân nhà màu xanh lam và trắng kể từ năm 1908, từ đó hình thành biệt danh "The Bluebirds". Sân nhà cố định đầu tiên của Cardiff là Ninian Park, khai trương vào năm 1910; sân này được sử dụng trong 99 năm cho tới khi đội bóng chuyển sang Sân vận động Thành phố Cardiff vào năm 2009. Cardiff từ lâu đã có mối kình địch với các câu lạc bộ lân cận như Swansea City, đối thủ của họ trong trận South Wales derby, và Bristol City, đối thủ trong trận derby Severnside. Cầu thủ ra sân nhiều nhất trong lịch sử câu lạc bộ là Billy Hardy, với 590 lần ra sân trong 20 năm khoác áo Cardiff City, còn chân sút ghi nhiều bàn nhất là Len Davies với 179 bàn thắng.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu (1899-1920)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một cuộc họp tại nhà của nghệ sĩ in thạch bản Bartley Wilson ở Cardiff,[4] câu lạc bộ được thành lập vào năm 1899 với tên gọi Riverside A.F.C. như một cách để giữ cho các cầu thủ của Riverside Cricket Club tiếp tục gắn bó và duy trì thể lực trong những tháng mùa đông.[5][6] Trong mùa giải đầu tiên, đội bóng thi đấu các trận giao hữu với các đội địa phương trên sân Sophia Gardens. Năm 1900, đội gia nhập Cardiff & District League để bước vào mùa giải chính thức đầu tiên.[7] Khi Vua Edward VII trao quy chế thành phố cho Cardiff vào năm 1905, câu lạc bộ đã gửi yêu cầu tới South Wales and Monmouthshire Football Association xin đổi tên thành Cardiff City.[5] Yêu cầu này bị từ chối vì đội bóng bị cho là chưa thi đấu ở cấp độ đủ cao. Để nâng vị thế của mình, đội bóng thu xếp gia nhập South Wales League vào năm 1907. Năm sau, câu lạc bộ được chấp thuận đổi tên thành Cardiff City.[8][9]

Dù ngày càng phát triển về tầm vóc, câu lạc bộ buộc phải từ chối cơ hội gia nhập Second Division mới thành lập của Southern Football League do thiếu cơ sở vật chất tại sân Sophia Gardens. Trong hai năm tiếp theo, Cardiff thi đấu các trận giao hữu với một số đội bóng chuyên nghiệp hàng đầu tại Anh, bao gồm Middlesbrough, Bristol CityCrystal Palace. Các trận đấu được tổ chức trên những sân tại Cardiff và các thị trấn lân cận nhằm đánh giá mức độ quan tâm của công chúng đối với đội bóng.[10] Cuối cùng, câu lạc bộ đã có được đất để xây dựng sân vận động riêng là Ninian Park, được hoàn thành vào năm 1910. Câu lạc bộ chuyển sang chuyên nghiệp trong cùng năm đó. Bản hợp đồng đầu tiên được thực hiện vào năm sau, khi đội bóng chiêu mộ Jack Evans từ đội bóng Wales khác là Cwmparc.[9]

Khi đã có sân mới, Cardiff gia nhập Southern Football League Second Division[11] và bổ nhiệm huấn luyện viên đầu tiên là Davy McDougall, người đồng thời làm cầu thủ kiêm huấn luyện viên.[12] Đội bóng kết thúc mùa giải đầu tiên tại giải ở vị trí thứ tư. Ban lãnh đạo quyết định thay McDougall bằng Fred Stewart, người từng có kinh nghiệm dẫn dắt Stockport County.[4] Ông nhanh chóng áp dụng cách tiếp cận chuyên nghiệp hơn, chiêu mộ một số cầu thủ giàu kinh nghiệm tại Football League, trong đó có anh em JohnGeorge Burton cùng Billy Hardy. Stewart đưa đội bóng thăng hạng ở mùa giải thứ hai của mình sau khi vô địch Second Division. Cardiff sau đó ở lại First Division trong suốt mười năm tiếp theo và có hai lần kết thúc trong tốp bốn.[9][13]

Thành công trong thập niên 1920 và giai đoạn suy giảm sau đó (1920-1945)

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1920, câu lạc bộ nộp đơn thành công xin gia nhập Football League và được xếp vào Second Division cho mùa giải 1920-21.[9] Stewart mang về một số cầu thủ giàu kinh nghiệm tại Football League, đồng thời phá kỉ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ trong hai lần để chiêu mộ Jimmy Gill và sau đó là Jimmy Blair từ The Wednesday. Cardiff thi đấu trận đầu tiên tại Football League vào ngày 28 tháng 8 năm 1920, đánh bại Stockport County với tỉ số 5-2.[14] Đội bóng kết thúc mùa giải ở vị trí á quân và giành quyền thăng hạng lên First Division.[11] Cardiff xếp sau Birmingham City theo trung bình bàn thắng và vào tới bán kết Cúp FA.[15] Ở mùa giải thứ ba tại hạng đấu cao nhất, đội bóng về nhì sau Huddersfield Town do kém trung bình bàn thắng 0,024.[11][15][16] Cardiff hòa trận cuối cùng 0-0 khi chân sút giữ kỉ lục của câu lạc bộ là Len Davies đá hỏng phạt đền.[15]

Vị trí trên bảng xếp hạng theo từng năm kể từ khi Cardiff City gia nhập Football League[11]

Mùa giải tiếp theo là lần đầu tiên Cardiff xuất hiện tại Sân vận động Wembley, sau khi lọt vào trận chung kết Cúp FA đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ.[11] Đội bóng để thua Sheffield United 1-0 sau bàn thắng của tuyển thủ Anh Fred Tunstall.[15] Mùa giải 1926-27, khi Cardiff chỉ đứng thứ 14, là thành tích tệ nhất của đội bóng ở hạng đấu cao nhất nước Anh kể từ khi thăng hạng sáu mùa trước đó. Tuy nhiên, đội bóng lại vào tới trận chung kết Cúp FA thứ hai trong vòng hai năm.[15] Vào St George's Day, ngày 23 tháng 4 năm 1927, tại Wembley ở London, Cardiff trở thành đội bóng ngoài nước Anh duy nhất từng vô địch Cúp FA khi đánh bại Arsenal 1-0 trong trận chung kết;[17] Hughie Ferguson ghi bàn duy nhất của trận đấu ở phút thứ 74. Anh nhận bóng từ Ernie Curtis rồi tung ra một cú dứt điểm không quá mạnh về phía khung thành;[18] thủ môn Arsenal là Dan Lewis để bóng tuột khỏi tay và vô tình dùng khuỷu tay đưa bóng vào lưới.[19] Đội trưởng Fred Keenor nhận chiếc cúp Cúp FA từ Vua George V khi trận đấu khép lại, chỉ bảy năm sau khi Cardiff City gia nhập Football League.[15] Khi đội bóng trở về Cardiff vào ngày hôm sau, khoảng 150.000 người đã đứng kín các tuyến phố để chào đón.[20]

Đội bóng cũng giành Cúp bóng đá Wales năm 1927 sau khi đánh bại Rhyl 2-0, qua đó trở thành câu lạc bộ duy nhất vô địch cúp quốc gia của hai nước trong cùng một mùa giải.[21] Sau đó, Cardiff tiếp tục vô địch FA Charity Shield sau khi thắng đội nghiệp dư the Corinthians 2-1 tại Stamford Bridge.[22][15][23] Sau thành công ở đấu trường cúp, câu lạc bộ bước vào giai đoạn sa sút. Cardiff xuống hạng khỏi First Division ở mùa giải 1928-29, dù để lọt lưới ít hơn mọi đội khác trong giải.[24] Hai năm sau, đội bóng tiếp tục xuống hạng lần nữa, rơi xuống Third Division South lần đầu tiên kể từ khi gia nhập Football League.[11] Trong mùa giải đầu tiên ở hạng đấu này, Cardiff giành chiến thắng đậm nhất trong lịch sử khi đánh bại Thames với tỉ số 9-2.[25] Cardiff kết thúc mùa giải 1932-33 ở vị trí thứ 19, khiến huấn luyện viên Fred Stewart từ chức sau 22 năm dẫn dắt đội bóng.[15] Người sáng lập câu lạc bộ Bartley Wilson đứng ra thay thế Stewart. Kết quả vẫn tiếp tục đáng thất vọng, và vào tháng 3 năm 1934, Ben Watts-Jones có cơ hội dẫn dắt đội bóng mà ông đã hâm mộ từ nhỏ. Tuy nhiên, ông không thể xoay chuyển tình thế; Cardiff kết thúc mùa giải ở đáy bảng và phải nộp đơn xin tái bầu chọn để được ở lại giải đấu.[4] Watts-Jones tiếp tục tại vị thêm ba năm trước khi bị thay thế bởi Bill Jennings. Cardiff ở lại Third Division South cho tới khi Football League bị tạm dừng sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.[11][15]

Thời kì hậu chiến và đấu trường châu Âu (1945-2000)

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải đầu tiên sau khi Football League trở lại, dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên mới Billy McCandless, Cardiff kết thúc mùa giải 1946-47 với tư cách vô địch Third Division South và trở lại Second Division.[26] McCandless rời câu lạc bộ không lâu sau đó và được thay bằng Cyril Spiers, người đã đưa đội bóng thăng hạng trong mùa giải 1951-52.[11][27] Cardiff trở lại hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh lần đầu tiên sau 23 năm và trụ lại đó trong năm mùa giải.[15] Đội bóng xuống hạng năm 1957, sau ba mùa giải liên tiếp vật lộn ở nửa dưới bảng xếp hạng.[27] Cardiff trở lại First Division trong hai mùa giải từ năm 1960 đến năm 1962 trước khi bị xuống hạng.[11]

A black and white image of a football match.
Cardiff City thi đấu với Oxford United tại Ninian Park năm 1983

Trong thập niên 1960, Cardiff lần đầu tiên góp mặt ở các giải đấu châu Âu nhờ việc vô địch Cúp bóng đá Wales, danh hiệu giúp đội giành quyền tham dự giải European Cup Winners Cup mới thành lập.[28] Trận đấu đầu tiên của Cardiff tại đấu trường châu Âu diễn ra ở giải này trong mùa giải 1964-65, gặp đại diện Đan Mạch Esbjerg fB. Đội bóng thắng 1-0 sau hai lượt trận, với bàn thắng duy nhất được ghi bởi Peter King.[29] Cardiff đi tới tứ kết trước khi bị loại bởi Real Zaragoza.[11] Bất chấp thành tích tại châu Âu, đội bóng vẫn gặp khó khăn ở giải vô địch dưới thời Jimmy Scoular, kết thúc ở vị trí thứ 20 tại Second Division.[30] Hai năm sau, đội bóng lọt vào bán kết Cup Winners Cup sau những chiến thắng trước Shamrock Rovers, NAC BredaTorpedo Moscow, qua đó tạo nên cuộc đối đầu với đại diện Đức là Hamburg,[11] đội bóng sở hữu nhiều tuyển thủ Đức trong đội hình. Đây vẫn là thành tích tiến xa nhất của một đội bóng Wales tại cúp châu Âu.[31] Sau trận hòa 1-1 ở lượt đi, hơn 43.000 khán giả đã có mặt tại Ninian Park để chứng kiến Hamburg thắng 3-2.[30][32] Trong mùa giải 1970-71, Cardiff vào tới tứ kết Cup Winners Cup, nơi đối thủ là đội bóng Tây Ban Nha Real Madrid. Trận lượt đi diễn ra tại Ninian Park, nơi 47.000 khán giả chứng kiến một trong những chiến thắng đáng nhớ nhất lịch sử Cardiff khi Brian Clark đánh đầu ghi bàn, giúp Cardiff thắng 1-0.[8][33] Sau đó Cardiff bị loại khi thua 2-0 ở lượt về.[30] Đội bóng trải qua 19 trong số 20 mùa giải từ năm 1962 đến năm 1982 tại Second Division, chỉ bị rớt xuống Third Division ở mùa giải 1975-76.[11][34]

Cardiff liên tục nằm ở hai hạng đấu thấp hơn của Football League trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1993. Câu lạc bộ bổ nhiệm nhiều huấn luyện viên với hi vọng cải thiện thành tích, nhưng chỉ đạt được rất ít hiệu quả.[34] Đội bóng từng xuống Fourth Division một lần ở mùa giải 1985-86, và dù đã hai lần trở lại Third Division, Cardiff vẫn rơi xuống vị trí thấp nhất trong lịch sử giải vô địch của mình ở năm 1996 — đứng thứ 22 trong số 24 đội tại Division Three.[35] Năm 1995, Cardiff cùng các câu lạc bộ Wales khác đang thi đấu trong các giải của Anh bị cấm tham dự Cúp bóng đá Wales theo sức ép từ Football Association of Wales,[36] khi UEFA không muốn các đội bóng cùng lúc dự hai cúp quốc gia.[37] Trận cuối cùng của Cardiff tại giải đấu này là thất bại 2-1 trước Wrexham trong trận chung kết năm 1995.[11]

Đầu tư nước ngoài (2000-nay)

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 8 năm 2000, doanh nhân người Liban Sam Hammam mua quyền kiểm soát câu lạc bộ và thay Steve Borley giữ chức chủ tịch.[38][39] Không lâu sau khi tiếp quản, Hammam gây tranh cãi khi tuyên bố sẽ khiến cả dân tộc Wales ủng hộ Cardiff bằng cách đổi tên câu lạc bộ thành "The Cardiff Celts" và đổi màu sắc truyền thống của đội sang xanh lá, đỏ và trắng.[40] Sau những cuộc trao đổi kéo dài với các cầu thủ kì cựu và người hâm mộ, ông quyết định rằng chính sách tốt nhất là không đổi tên câu lạc bộ. Huy hiệu của đội được thiết kế lại; phiên bản mới kết hợp hình chim xanh của Cardiff City phía trước Flag of Saint David và đặt biệt danh của câu lạc bộ ở phía trên huy hiệu.[41] Hammam tài trợ cho một số thương vụ chuyển nhượng mới của câu lạc bộ, còn huấn luyện viên mới Lennie Lawrence đưa Cardiff thăng hạng khi giành chiến thắng trong trận play-off Second Division của năm 2003 trước Queens Park Rangers.[42] Cầu thủ vào sân thay người Andy Campbell ghi bàn duy nhất trong hiệp phụ, bảo đảm cho Cardiff trở lại Division One sau 18 năm vắng bóng.[38]

Trong những năm tiếp theo, câu lạc bộ ngày càng gặp nhiều khó khăn tài chính và kế hoạch xây sân vận động mới không được Cardiff Council chấp thuận בשנת 2006 vì lo ngại về sự bảo đảm tài chính.[38] Hammam sau đó đồng ý để một tập đoàn do tân chủ tịch Peter Ridsdale và nhà phát triển chính của sân vận động mới là Paul Guy đứng đầu tiếp quản câu lạc bộ.[43] Trong mùa giải 2007-08, Cardiff lần đầu tiên sau 81 năm vào bán kết Cúp FA sau khi đánh bại Middlesbrough 2-0 vào ngày 9 tháng 3 năm 2008.[38] Sau khi vượt qua Barnsley ở trận bán kết với chiến thắng 1-0 tại Sân vận động Wembley ngày 6 tháng 4 nhờ bàn thắng của Joe Ledley,[44] Cardiff cuối cùng thua Portsmouth 1-0 trong trận chung kết sau bàn thắng của Nwankwo Kanu ở phút thứ 37.[38][45]

Cardiff vô địch Championship 2012-13 sau khi đánh bại Bolton Wanderers ở trận cuối cùng.

Vào tháng 5 năm 2010, Chan Tien Ghee tiếp quản vị trí chủ tịch câu lạc bộ sau lời đề nghị mua lại từ một tập đoàn Malaysia; Vincent Tan cũng đầu tư và gia nhập ban lãnh đạo.[46][47] Sau đó Tan trở thành cổ đông chi phối của Cardiff khi mua lại cổ phần từ một số giám đốc khác và nắm khoảng 82% cổ phần câu lạc bộ.[48] Năm 2011, câu lạc bộ bổ nhiệm Malky Mackay làm huấn luyện viên.[49] Ngay trong mùa giải đầu tiên, ông đã đưa đội bóng vào chung kết League Cup lần đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ.[11] Mùa giải sau đó, Cardiff vô địch Championship 2012-13 và qua đó giành quyền thăng hạng lên hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh lần đầu tiên sau 52 năm.[50][51] Ngày 18 tháng 8 năm 2013, Cardiff thi đấu trận sân khách đầu tiên trong lịch sử tại Premier League, để thua West Ham United 2-0.[52] Cardiff chỉ thắng ba trận trong nửa đầu mùa giải và vào ngày 27 tháng 12 năm 2013, Mackay bị Vincent Tan sa thải, thay bằng Ole Gunnar Solskjær.[53][54] Bất chấp sự thay đổi trên băng ghế chỉ đạo, Cardiff vẫn xuống hạng Championship chỉ sau một mùa giải, sau thất bại 3-0 trên sân khách trước Newcastle United.[55] Bản thân Solskjær cũng bị sa thải vào ngày 18 tháng 9 năm 2014 sau khởi đầu thất vọng ở mùa giải Championship kế tiếp, và được thay bằng huấn luyện viên Leyton OrientRussell Slade.[56]

A football team celebrating with a trophy
Huấn luyện viên Neil Warnock và các cầu thủ nâng cúp á quân EFL Championship 2017-18.

Vào tháng 10 năm 2016, Neil Warnock được bổ nhiệm làm huấn luyện viên đội một của Cardiff.[57] Warnock tiếp quản đội bóng khi Cardiff đứng áp chót bảng xếp hạng sau chỉ hai chiến thắng trong mười một trận, rồi đưa đội bóng cán đích ở vị trí thứ 12 nhờ chuỗi phong độ ấn tượng.[58] Khởi đầu của mùa giải 2017-18 chứng kiến Cardiff lập kỉ lục câu lạc bộ khi thắng ba trận đầu tiên tại giải vô địch, lần đầu tiên trong 107 năm lịch sử chuyên nghiệp của đội bóng.[59] Cardiff sau đó giành quyền thăng hạng lên Premier League sau khi kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai.[60] Tuy nhiên, Cardiff lại xuống Championship chỉ sau một mùa giải.[61]

Warnock từ chức vào tháng 11 năm 2019 sau khởi đầu không tốt của mùa giải và được thay thế bởi Neil Harris.[62][63] Harris đưa Cardiff cán đích ở vị trí thứ năm trước khi để thua ở bán kết play-off Championship.[64] Sau chuỗi sáu thất bại liên tiếp, Harris bị sa thải vào ngày 21 tháng 1 năm 2021,[65] mở đầu cho một chuỗi bổ nhiệm ngắn hạn. Người thay thế ông là Mick McCarthy, được bổ nhiệm ngay ngày hôm sau,[66] nhưng cũng bị miễn nhiệm chưa đầy một năm sau khi Cardiff chỉ hơn nhóm xuống hạng 2 điểm.[67] Huấn luyện viên đội U-23 của câu lạc bộ là Steve Morison được bổ nhiệm tạm quyền trước khi kí hợp đồng 18 tháng sau khi giúp Bluebirds trụ hạng thành công.[68] Morison bị sa thải vào tháng 9 năm 2022 và được thay thế bởi Mark Hudson, người cũng chỉ trụ lại bốn tháng trước khi tiếp tục bị sa thải vào tháng 1 năm 2023.[69]

Vào tháng 12 năm 2022, Cardiff City bị FIFA áp lệnh cấm chuyển nhượng; lệnh này được dỡ bỏ vào tháng 1 năm 2023.[70][71] Câu lạc bộ cũng kháng cáo một lệnh cấm khác từ English Football League, vốn ngăn Cardiff trả phí chuyển nhượng cho cầu thủ cho tới tháng 5 năm 2024.[71]

Vào tháng 3 năm 2023, Cardiff City công bố khoản lỗ hoạt động 29 triệu bảng Anh cho mùa giải 2021-22.[72]

Vào tháng 6 năm 2023, Erol Bulut được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Cardiff.[73] Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 2024, ông bị sa thải khi Cardiff khởi đầu mùa giải Championship 2024-25 với sáu trận liên tiếp không thắng.[74] Người kế nhiệm ông, đồng thời là trợ lí huấn luyện viên trước đó, Omer Riza, chỉ tại vị tới tháng 4 năm 2025. Sau đó, Aaron Ramsey tiếp quản đội bóng trên cương vị tạm quyền cho tới hết mùa giải.[75] Về sau, trong tháng 4 năm 2025, Cardiff City xuống hạng xuống League One.[76] Sự việc này khiến Hội Cổ động viên kêu gọi một cuộc họp khẩn với Vincent Tan, cho rằng "cần có những thay đổi lớn... để tránh vận mệnh của câu lạc bộ tiếp tục trượt dốc" trong một tuyên bố chính thức.[77][78]

Cổ động viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Cardiff có một vùng thu hút cổ động viên rộng lớn để xây dựng lực lượng cổ động viên của mình. Chỉ có hai đội bóng chuyên nghiệp khác là Swansea City và Newport County cùng chia sẻ khu vực Nam Wales, nên câu lạc bộ nhận được sự ủng hộ đáng kể từ cả thành phố Cardiff lẫn khu vực South Wales Valleys xung quanh.[79] Là một câu lạc bộ Wales thi đấu trong hệ thống giải đấu bóng đá Anh, bản sắc dân tộc được cho là một yếu tố lớn trong sự ủng hộ từ người hâm mộ, và một số trận đấu của câu lạc bộ được xem như các cuộc đối đầu xuyên biên giới giữa Wales và Anh.[79][80] Trong thập niên 1980, khi câu lạc bộ vật lộn ở các hạng đấu thấp hơn của bóng đá Anh, lượng khán giả giảm xuống mức trung bình 3.000 người mỗi trận. Sự cải thiện về vận mệnh của đội bóng sau đó kéo theo mức tăng đều đặn về lượng khán giả. Số người xem trung bình trong các trận sân nhà tăng từ 3.594 lên 12.522 trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2002.[81] Việc thăng hạng lên cấp độ thứ hai năm 2003 tiếp tục làm tăng lượng khán giả. Sự ra đời của Cardiff City Stadium giúp số người xem trung bình đạt mốc 20.000, và đạt đỉnh từ 28.000 đến 31.000 trong hai mùa giải tại Premier League.[82][83] Dù vậy, câu lạc bộ thường bị xem là thu hút ít khán giả hơn những đội bóng có vị thế tương đương. Điều này được cho là xuất phát từ nhiều nguyên nhân như việc đổi áo sang màu đỏ gây tranh cãi trong giai đoạn 2012-2015, việc một bộ phận cổ động viên bị nhìn nhận là chỉ ủng hộ khi đội bóng thành công, và bầu không khí cổ vũ thiếu sôi động.[82][84]

Người hâm mộ Cardiff City thực hiện "the Ayatollah" vào năm 2011

Bản sắc dân tộc Wales cũng góp phần tạo nên văn hóa cổ động viên của câu lạc bộ. "Men of Harlech", một bài hát trở nên đặc biệt nổi tiếng nhờ bộ phim Zulu năm 1964, vốn tái hiện một trận đánh có sự tham gia của một trung đoàn người Wales,[85] cùng với "I'll Be There", một phiên bản chuyển thể từ bài hát của giới thợ mỏ từng phổ biến trong cuộc tổng đình công tại Anh năm 1926, đều thường xuyên được hát trước và trong các trận đấu.[86] The Ayatollah, một động tác giơ hai tay lên xuống trên đầu theo kiểu vỗ nhẹ, đã trở thành biểu tượng gắn liền với câu lạc bộ và người hâm mộ như một cử chỉ ăn mừng kể từ khi được du nhập vào đầu những năm 1990.[87][88] Động tác này còn trở nên phổ biến với người hâm mộ Cardiff ngoài phạm vi bóng đá để bày tỏ sự ủng hộ dành cho câu lạc bộ, khi võ sĩ quyền Anh Nathan Cleverly,[89] vận động viên bơi Olympic David Davies và cầu thủ rugby Gareth Thomas đều từng thực hiện động tác này vào بعض thời điểm trong sự nghiệp của mình.[87][90]

Kình địch

[sửa | sửa mã nguồn]
Trọng tài Mike Dean được điều trị sau khi bị vật thể lạ ném trúng trong một trận derby Nam Wales năm 2009

Được biết đến với tên gọi derby Nam Wales, mối kình địch quan trọng nhất của Cardiff City là với đối thủ láng giềng Swansea City, và hai đội đã gặp nhau hơn 100 lần trên mọi đấu trường. Trận đấu chính thức đầu tiên của Swansea sau khi được thành lập vào năm 1912 là gặp Cardiff tại Southern Football League.[6] Mối kình địch này tương đối ôn hòa cho tới thập niên 1970 và 1980. Những vấn đề kinh tế như cuộc đình công thợ mỏ tại Anh 1984-85, sự cạnh tranh giữa hai thành phố và sự gia tăng của Hooligan trong bóng đá đã dẫn tới nhiều vụ đụng độ bạo lực giữa cổ động viên ở các trận đấu. Một trận đấu năm 1993 bị gắn biệt danh "The Battle of Ninian Park" vì mức độ bạo lực đặc biệt nghiêm trọng và khiến cổ động viên đội khách bị cấm tới xem bất kì trận đấu nào giữa hai đội trong suốt bốn năm.[91][92][93] Cầu thủ Cardiff Jason Perry từng mô tả giai đoạn đó là "những ngày đen tối, đen tối của trận derby".[94] Khi lệnh cấm được dỡ bỏ, các "bubble trip" được áp dụng cho cổ động viên đội khách, nghĩa là họ chỉ có thể đến sân qua các đoàn xe được cảnh sát hộ tống cả chiều đi lẫn chiều về.[91][92]

Khoảng cách chính trị giữa hai thành phố còn bị khoét sâu hơn bởi cuộc trưng cầu dân ý về phân quyền cho Wales năm 1997, khi Cardiff được chọn làm nơi đặt Senedd mới thành lập, dù phần lớn cử tri của thành phố bỏ phiếu phản đối phân quyền.[92] Swansea, nơi phần lớn cử tri ủng hộ phân quyền, lại nhận được kinh phí để xây dựng một bể bơi quốc gia.[92] Alan Curtis, người từng thi đấu cho cả hai đội, bình luận: "Tôi nghĩ Cardiff lúc nào cũng bị nhìn nhận là [...] sẽ nhận được bất cứ khoản tài trợ nào đang được phân bổ. Với tôi thì mọi thứ dường như đều được dồn về hướng đó".[91] Ở phạm vi xa hơn, câu lạc bộ còn có mối kình địch với Bristol City, được gọi là derby Severnside, và ở mức độ thấp hơn là Bristol Rovers. Ngoài ra còn có một mối kình địch nhẹ hơn với láng giềng Wales là Newport County do hai thành phố Wales ở khá gần nhau; tuy nhiên hai đội hiếm khi gặp nhau kể từ thập niên 1980 vì Cardiff thường thi đấu ở các hạng đấu cao hơn. Tổng cộng, hai đội mới chỉ gặp nhau 20 lần tại Football League. Một cuộc khảo sát của Football Fans Census năm 2003 cho thấy Swansea, Bristol City và Newport là ba đối thủ lớn nhất của Cardiff, trong khi Stoke City được xếp ngang với Newport ở vị trí thứ ba.[95]

Trong thập niên 1980, một nhóm hooligan mang tên Soul Crew xuất hiện trong nội bộ lực lượng cổ động viên của câu lạc bộ.[96] Nhóm này trở nên tai tiếng vì những vụ đụng độ bạo lực với cổ động viên đối thủ và các vụ ẩu đả giữa những nhóm cổ động viên trong các trận bóng đá cũng như những sự kiện khác.[97][98]

Sân vận động

[sửa | sửa mã nguồn]

Ninian Park

[sửa | sửa mã nguồn]
Mặt trước của Ninian Park vào năm 2005

Sân nhà đầu tiên của Cardiff nằm tại khu giải trí Sophia Gardens, nơi đội bóng thi đấu từ khi thành lập năm 1899 cho tới năm 1910.[99] Khi sự ủng hộ dành cho câu lạc bộ ngày càng tăng, Bartley Wilson đã liên hệ với Bute Estate, đơn vị khi đó sở hữu nhiều khu đất tại Cardiff, nhằm tìm một vị trí phù hợp để xây sân vận động. Cuối cùng họ thống nhất chọn một khu đất bỏ hoang trên đường Sloper. Khu đất này vốn là một bãi rác cũ và cần rất nhiều công sức để biến thành mặt sân có thể thi đấu, nhưng với sự hỗ trợ từ Cardiff Corporation và các tình nguyện viên, công việc đã được hoàn tất.[10] Ý định ban đầu là đặt tên sân là Sloper Park,[100] nhưng cuối cùng cái tên Ninian Park được chọn để vinh danh Lord Ninian Crichton-Stuart, người đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng sân.[101] Sân tổ chức trận đấu đầu tiên vào ngày 1 tháng 9 năm 1910 trong một trận giao hữu với Aston Villa;[8] Lord Crichton-Stuart là người thực hiện cú giao bóng mang tính nghi thức trong trận đấu đó.[100]

Sân vận động ban đầu được xây với một khán đài. Một khán đài thứ hai, thay thế cho bờ đất cũ và có sức chứa 18.000 người, được mở cửa vào năm 1928. Ninian Park tổ chức trận đấu quốc tế đầu tiên vào tháng 3 năm 1911, trong trận của Wales gặp Scotland.[100] Gần về cuối vòng đời sử dụng, sân bị thay thế trong các trận quốc tế bởi Cardiff Arms Park do ngày càng xuất hiện nhiều nghi ngại về mức độ an toàn của công trình đã cũ.[102] Kỉ lục khán giả của câu lạc bộ tại sân là 57.893 người, được thiết lập trong trận đấu giải vô địch gặp Arsenal ngày 22 tháng 4 năm 1953.[103] Việc thu hẹp các sân trong thập niên 1970 và 1980 do lo ngại về an toàn, khiến sức chứa của sân giảm xuống còn 22.000, đồng nghĩa kỉ lục này được giữ nguyên cho tới khi sân đóng cửa. Trong những năm sử dụng cuối cùng, câu lạc bộ buộc phải xin phép đặc biệt từ giới chức để tiếp tục giữ mở các khu vực khán đài đứng còn lại sau thời hạn ba năm mà các câu lạc bộ ở Championship trở lên được cấp để loại bỏ những khu này.[104][105]

Sân vận động Thành phố Cardiff

[sửa | sửa mã nguồn]
Sân cỏ Sân vận động Thành phố Cardiff năm 2010

Vào tháng 6 năm 2009, câu lạc bộ hoàn tất việc xây dựng một sân vận động 26.828 chỗ ngồi trên khu đất của Sân vận động Cardiff Athletics cũ nay đã bị phá dỡ, với chi phí 48 triệu bảng Anh.[106][107] Sân được đặt tên là "Cardiff City Stadium". Ba trong bốn khán đài tiếp tục mang những cái tên từng được dùng ở Ninian Park — Grange End, Canton Stand và Grandstand — còn khán đài thứ tư được đặt tên là Ninian Stand.[106] Quyền đặt tên của sân dự kiến sẽ được bán, với hi vọng mang về tới 9 triệu bảng Anh doanh thu cho câu lạc bộ; tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa bán được.[106] Dù một trận giao hữu trước mùa giải với Chasetown đã được tổ chức tại sân với số lượng khán giả giới hạn để thử nghiệm các tính năng an toàn,[108] lễ khai trương chính thức của sân diễn ra trong trận giao hữu với đại diện Scotland là Celtic vào ngày 22 tháng 7 năm 2009.[109] Trận đấu chính thức đầu tiên tại sân diễn ra vào ngày 8 tháng 8 năm 2009, ngày khai mạc mùa giải 2009-10, khi Cardiff thắng Scunthorpe United 4-0.[110] Khi sân mở cửa, câu lạc bộ rugby union Cardiff Blues đã rời Cardiff Arms Park để chuyển sang dùng chung sân mới với Cardiff City.[111] Quyết định này không được lòng người hâm mộ của đội rugby, và họ trở lại Cardiff Arms Park vào năm 2012.[112]

Vài năm sau khi sân được xây dựng, những kế hoạch nâng cấp và mở rộng sân đã được khởi động. Kế hoạch mở rộng hoàn tất vào tháng 8 năm 2014, nâng sức chứa lên 33.316 chỗ. Vào tháng 3 năm 2015, có thông báo rằng phần mở rộng của Ninian Stand sẽ bị đóng trong mùa giải 2015-16 do doanh số bán vé thấp, khiến sức chứa giảm xuống còn 27.978.[113] Phần khán đài này được mở lại vào năm sau do nhu cầu tăng lên.[114]

Vào tháng 2 năm 2023, sân vận động này được trao Giải Centre of Excellence của Level Playing Field để ghi nhận các cơ sở vật chất và dịch vụ thân thiện với người khuyết tật.[115]

Màu sắc, trang phục và huy hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Màu sắc

[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Riverside A.F.C. được thành lập vào năm 1899, câu lạc bộ sử dụng áo đấu caro màu nâu sô-cô-la và màu hổ phách.[5] Sau khi câu lạc bộ đổi tên thành Cardiff City vào năm 1908, đội bóng chuyển sang mặc áo xanh lam cùng quần short và tất màu trắng hoặc xanh, dù trong chín năm đầu tiên đội vẫn dùng tất màu đen. Những thay đổi về trang phục trong lịch sử câu lạc bộ bao gồm các bộ đồ toàn xanh, việc đưa thêm một sọc dọc màu vàng vào thập niên 1970 và các bộ áo có sọc xanh xen kẽ.[41]

Vào năm 2012, Vincent Tan gây tranh cãi khi thay đổi màu áo sân nhà của Cardiff từ xanh lam và trắng truyền thống sang đỏ và đen,[116] đánh dấu lần đầu tiên kể từ năm 1908 câu lạc bộ không dùng màu xanh làm màu chủ đạo.[117] Huy hiệu cũng được thay đổi thành phiên bản mà trong đó Welsh Dragon nổi bật hơn chim xanh truyền thống. Những thay đổi này được thực hiện nhằm "tạo sức hút trên các thị trường quốc tế" như một phần của "kế hoạch đầu tư lớn" do chủ tịch Vincent Tan công bố.[118] Cuộc tái định vị thương hiệu này vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ người hâm mộ, những người đã tổ chức các cuộc tuần hành và biểu tình để bày tỏ sự bất bình.[119][120] Dù trước đó Tan từng tuyên bố câu lạc bộ chỉ trở lại màu xanh nếu có chủ sở hữu khác xuất hiện, vào ngày 9 tháng 1 năm 2015, sau ba mùa giải mặc áo đỏ, đội bóng đã đưa màu áo sân nhà trở lại xanh lam và dùng bộ sân khách màu đỏ với mục tiêu "đoàn kết" câu lạc bộ.[121][122]

Orange and "Chocolate" quarter shirt, "Chocolate Short and sock
Trang phục ban đầu được sử dụng khi còn là Riverside A.F.C. trước năm 1908
Blue jersey, White Shorts, Black socks
Màu áo nguyên thủy của Cardiff từ năm 1908 tới thập niên 1920
Light Blue jersey, White Shorts, Blue socks
Bộ trang phục xanh nhạt của Cardiff được sử dụng từ năm 1926 đến năm 1930
Blue jersey, White Shorts, Black socks
Áo xanh đậm trở lại trong giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1992.
Blue jersey, Blue Shorts, Blue socks
Bộ trang phục toàn xanh được sử dụng trong giai đoạn 1992-1996 và 2000-2007
Blue jersey, White Shorts, White socks
Bộ trang phục mùa giải 2009-10 với màu vàng được thêm trở lại
Red jersey, Black Shorts, Red socks
Cardiff từng mặc màu đỏ trong một thời gian ngắn từ năm 2012 đến năm 2015.
Cardiff trở lại với màu xanh trong mùa giải 2014-15.

Lịch sử huy hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1908, Cardiff thi đấu trong những chiếc áo không có huy hiệu trang trí. Điều này thay đổi vào năm 1959 khi đội bóng ra sân với áo có một huy hiệu đơn giản mang hình ảnh một chim xanh. Mùa giải kế tiếp, áo đấu của Cardiff lại trở về kiểu trơn không có họa tiết và tiếp tục như vậy cho tới năm 1965, khi đội mặc áo có dòng chữ "Bluebirds" được thêu trên ngực.[41] Một huy hiệu mới, tương tự phiên bản từng được dùng trước đó và một lần nữa có hình chim xanh, được giới thiệu vào năm 1969. Nhiều biến thể của huy hiệu này đã được sử dụng qua các năm. Trong thập niên 1980, các chi tiết bổ sung như chữ và mô-típ trang trí được thêm vào. Một thay đổi lớn diễn ra vào năm 2012, khi chủ sở hữu Vincent Tan tìm cách tái định vị thương hiệu của câu lạc bộ nhằm mở rộng sức hút ra ngoài Wales.[123] Sự thay đổi này làm con rồng Wales trở nên nổi bật hơn nhiều, trong khi chim xanh chỉ còn là một chi tiết nhỏ. Vào tháng 3 năm 2015, Cardiff công bố một huy hiệu mới trong đó Bluebird một lần nữa trở thành hình ảnh chủ đạo, còn rồng Trung Quốc thay thế hình rồng Wales tiêu chuẩn.[124] Năm 2024, huy hiệu được thay đổi nhân dịp kỉ niệm 125 năm thành lập câu lạc bộ. Thay đổi này biến hình chim xanh trong huy hiệu trước đó thành chi tiết chính, nằm trong một vòng tròn trắng viền xanh.

Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ áo đấu

[sửa | sửa mã nguồn]
Giai đoạn Nhà sản xuất trang phục[41] Nhà tài trợ áo đấu[41]
1973-82 Umbro Không có
1983 Whitbread Wales
1984 Superted

Camilleri Roofing

1984-85 Merthyr Motor Auctions
1985-87 Admiral Airways Cymru
1987-88 Buckley's Brewery
1988-89 Scoreline
1989-90 Havelet
1990-91 Không có
1991-92 Influence
1992-94 Bluebirds South Wales Echo
1994-95 Strika
1995-96 Influence
1996-97 Lotto
1997-98 Errea Gilesports
1998-99 Xara Sports Cafe
1999-2000 Modplan
2000-02 Ken Thorne Group
2002-03 Puma Leekes
2003-05 Redrow Homes
2005-06 Joma
2006-08 Communications Direct
2008-09 Vansdirect
2009-10 Puma 777.com[125]
SBOBET
2009-10
2010-11
2011-14 Visit Malaysia
2014-15 Cosway Sports
2015-22 Adidas
2022– New Balance

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình đội một

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 5 tháng 2 năm 2026[126]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
2 HV Anh Will Fish
3 HV Cộng hòa Ireland Joel Bagan
4 HV Nigeria Gabriel Osho
6 TV Anh Ryan Wintle
8 TV Anh Omari Kellyman (mượn từ Chelsea)
10 TV Wales Rubin Colwill (đội phó)
11 Anh Ollie Tanner
12 HV Anh Calum Chambers (đội trưởng)
13 TM Anh Nathan Trott (mượn từ Copenhagen)
14 TV Scotland David Turnbull
16 TV Anh Chris Willock
18 TV Úc Alex Robertson
Số VT Quốc gia Cầu thủ
22 Đan Mạch Yousef Salech
23 HV Anh Calum Scanlon (mượn từ Liverpool)
24 TV Wales Eli King
27 TV Wales Joel Colwill
30 TM Anh Harry Tyrer
38 HV Singapore Perry Ng
39 Wales Isaak Davies
41 TM Wales Matthew Turner
44 HV Wales Ronan Kpakio
45 TV Wales Cian Ashford
47 Cộng hòa Ireland Callum Robinson
48 HV Wales Dylan Lawlor

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
5 HV Na Uy Jesper Daland (cho Fortuna Düsseldorf mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
9 Anh Kion Etete (cho St Mirren mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
28 TV Wales Dakarai Mafico (cho Yeovil Town mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
29 Wales Tanatswa Nyakuhwa (cho Newport County mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
46 Anh Michael Reindorf (cho Tamworth mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
49 HV Wales Luey Giles (cho Eastleigh mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Croatia Roko Šimić (cho Karlsruher mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)

Số áo treo vĩnh viễn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
7 TV Anh Peter Whittingham (2007-2017)

Đội U-23 và học viện

[sửa | sửa mã nguồn]

Cardiff điều hành một học viện trẻ dành cho các nhóm tuổi từ 7 đến 18 tuổi.[127] Những cầu thủ gần đây trưởng thành từ hệ thống đào tạo trẻ này gồm các tuyển thủ Wales: Joe Ledley, Chris Gunter, Aaron Ramsey, Adam Matthews, Darcy Blake, Declan John, Rabbi Matondo, Mark Harris, Rubin Colwill,[128] Joel Colwill, Dylan Lawlor, Ronan Kpakio, Isaak Davies và, trước khi hệ thống đào tạo trẻ được cấp quy chế học viện, là Robert Earnshaw cùng James Collins.[129][130]

Cựu cầu thủ đáng chú ý

[sửa | sửa mã nguồn]

Ban huấn luyện và nhân sự

[sửa | sửa mã nguồn]
Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởngBrian Barry-Murphy
Trợ lí huấn luyện viên trưởngLee Riley
Trưởng bộ phận hiệu suấtKevin Gibbins
Huấn luyện viên thủ mônGavin Ward
Huấn luyện viên thể lựcScott Wickens
Chuyên viên phân tích huấn luyện đội mộtKieron Lovelady
Chuyên viên phân tích dữ liệuRob Clarke
Các chuyên viên phân tích đội mộtMatt Jenkins
Nic Yeung
Trưởng bộ phận tuyển trạchPatrick Deboys
Trưởng bộ phận dịch vụ y tếJames Rowland
Giám đốc y tếProfessor Len Noakes
Các bác sĩ đội mộtDr. Nick Roach
Dr. Will Redmond
Chuyên viên vật lí trị liệu cấp caoChris Lewis
Các chuyên viên vật lí trị liệu đội mộtLiam Donovan
Ryan Harrison
Chuyên viên khoa học thể thaoHayden Lau
Chuyên viên trị liệu thể thaoKyle Fairgrieve
Quản lí trang phụcDavid Bush
Trưởng bộ phận vận hành bóng đáLee Southernwood
Trợ lí vận hànhKeiran Dixon

Nguồn:[131]

Lịch sử huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:[132]

Kỉ lục

[sửa | sửa mã nguồn]
Cardiff lập kỉ lục câu lạc bộ khi mua Gary Medel vào năm 2013 và bán anh một năm sau đó.

Kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất trên mọi đấu trường hiện do Billy Hardy nắm giữ, với 590 trận cho câu lạc bộ trong giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1932, bao gồm cả thời gian thi đấu ở Southern Football League.[133] Phil Dwyer là cầu thủ có nhiều lần ra sân nhất trong kỉ nguyên Football League, với 575 trận. Len Davies là chân sút ghi nhiều bàn thắng nhất lịch sử câu lạc bộ với 179 bàn trên mọi đấu trường. Bảy cầu thủ khác là Peter King, Robert Earnshaw, Brian Clark, Carl Dale, Derek Tapscott, Jimmy GillJohn Toshack cũng đều đã ghi từ 100 bàn trở lên cho câu lạc bộ.[134]

Jack Evans trở thành cầu thủ Cardiff City đầu tiên giành được một lần khoác áo đội tuyển quốc gia vào ngày 13 tháng 4 năm 1912, khi anh đại diện cho Wales trong chiến thắng 3-2 trước Ireland. Cầu thủ có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất khi còn là người của Cardiff là Aron Gunnarsson, với 62 lần ra sân cho Iceland trong thời gian thi đấu cho câu lạc bộ.[135][136] Mức phí chuyển nhượng cao nhất mà câu lạc bộ từng chi ra để mua một cầu thủ là 15 triệu bảng Anh cho Emiliano Sala từ Nantes vào tháng 1 năm 2019.[137] Hai ngày sau khi kí hợp đồng, Sala qua đời trong một vụ rơi máy bay ở eo biển Manche.[138] Gary Medel trở thành cầu thủ được bán đi với mức giá cao nhất của câu lạc bộ khi anh gia nhập Inter Milan với giá 10 triệu bảng Anh vào tháng 8 năm 2014.[139]

Chiến thắng đậm nhất của Cardiff là trận thắng 16-0 trước Knighton Town tại vòng Năm Cúp bóng đá Wales năm 1962. Chiến thắng đậm nhất của họ ở giải vô địch quốc gia là trận thắng 9-2 trước Thames vào ngày 6 tháng 2 năm 1932; chiến thắng đậm nhất tại Cúp FA là trận thắng 8-0 trước Enfield vào ngày 28 tháng 11 năm 1931.[140]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Các danh hiệu của Cardiff City bao gồm như sau:[141]

Giải vô địch

Cúp

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Cefnogwyr yr Adar Gleision yn mynegi eu "pryder dwys" am sefyllfa'r clwb". Golwg360 (bằng tiếng Wales). ngày 2 tháng 12 năm 2024.
  2. "Premier League Handbook 2018-19" (PDF). Premier League. ngày 30 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2019.
  3. "CPD Dinas Caerdydd yn diswyddo eu rheolwr Erol Bulut". newyddion.s4c.cymru (bằng tiếng Wales). ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  4. 1 2 3 Hayes 2006, tr. 208
  5. 1 2 3 Tucker, Steve (ngày 9 tháng 5 năm 2012). "The obscure story of Cardiff City's blue kit and nickname". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2017.
  6. 1 2 Hayes 2003, tr. 5
  7. Grandin 2010, tr. 11
  8. 1 2 3 Shepherd 2002, tr. 4
  9. 1 2 3 4 Shepherd, Richard (ngày 19 tháng 3 năm 2013). "1899-1920 Foundations & the Early Years". Cardiff City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017.
  10. 1 2 Grandin 2010, tr. 12
  11. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 "Cardiff City". Football Club History Database. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017.
  12. "Playing Manager Appointed". Evening Express. ngày 14 tháng 9 năm 1910. tr. 4.
  13. Shepherd 2002, tr. 14-21
  14. "Opening Day History – Starting with success". Cardiff City F.C. ngày 1 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  15. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Shepherd, Richard (ngày 19 tháng 3 năm 2013). "1920-1947 Great Days, Lows & Recovery". Cardiff City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017.
  16. McLean, Kirk. "Queens Legends: George McLachlan and the 1936 Overseas tour". Queen of the South F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2009.
  17. Shuttleworth, Peter (ngày 4 tháng 1 năm 2009). "Cup friends reunited". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2017.
  18. Hayes 2006, tr. 63
  19. Rogers, Gareth (ngày 23 tháng 4 năm 2013). "Happy anniversary: Cardiff City celebrate 86 years since their 1927 FA Cup win". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2019.
  20. "Cup Winners Mobbed". Western Morning News. Số 20932. ngày 26 tháng 4 năm 1927. tr. 7. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2016 qua British Newspaper Archive.
  21. "125 years of Cardiff City | The Roaring Twenties, 1920-1929". Cardiff City F.C. ngày 14 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
  22. Shepherd 2002, tr. 28
  23. Shepherd 2002, tr. 29
  24. "Final Table for season 1928-29". English Football League Tables. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017.
  25. Shepherd 2002, tr. 3
  26. Hayes 2006, tr. 209
  27. 1 2 Shepherd, Richard (ngày 20 tháng 3 năm 2013). "1947-1964 Post-War Recovery". Cardiff City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017.
  28. Stokkermans, Karel. "European Cup Winners' Cup". The Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
  29. Shepherd 2002, tr. 64
  30. 1 2 3 Shepherd, Richard (ngày 21 tháng 3 năm 2013). "1964-1973 the Scoular Years". Cardiff City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017.
  31. "Welsh clubs in Europe". Welsh Football Data Archive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  32. Shepherd 2002, tr. 67
  33. Shuttleworth, Peter (ngày 22 tháng 4 năm 2009). "1971 – Cardiff City 1-0 Real Madrid". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  34. 1 2 Shepherd, Richard (ngày 21 tháng 3 năm 2013). "Friday Fame & 80s Pain". Cardiff City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017.
  35. Shepherd, Richard (ngày 21 tháng 3 năm 2013). "1989-1999 From Darkness into Light?". Cardiff City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017.
  36. "FAW seeks route into Europe for Cardiff and Swansea". BBC Sport. ngày 13 tháng 3 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  37. "Cardiff City tempted by Welsh Cup return". BBC Sport. ngày 21 tháng 4 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  38. 1 2 3 4 5 Shepherd, Richard (ngày 21 tháng 3 năm 2013). "2000-2010 Ignition & Progression". Cardiff City F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  39. Phillips, Terry (ngày 6 tháng 12 năm 2007). "Court hearing is just latest sad tale in Bluebird board wrangling". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019.
  40. Lloyd, Grahame (ngày 8 tháng 8 năm 2000). "Hammam dreams of Wales United". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  41. 1 2 3 4 5 "Cardiff City". Historical Football Kits. Dave Moor. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2017.
  42. Conn, David (ngày 5 tháng 3 năm 2005). "David Conn: Cardiff brought to their knees as financial reality bites for Hammam". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  43. "Hammam accused of Cardiff 'greed'". BBC Sport. ngày 23 tháng 12 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
  44. McKenzie, Andrew (ngày 6 tháng 4 năm 2008). "Barnsley 0-1 Cardiff City (FA Cup Semi-final)". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
  45. "Cardiff City Chung kết Cúp FA 2008 Team - Where Are They Now?". Football Stories (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2023.
  46. "Cardiff City chairman Dato Chan Tien Ghee resigns". BBC Sport. ngày 1 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  47. Doel, Jon (ngày 17 tháng 12 năm 2013). "Vincent Tan: A timeline of controversy". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019.
  48. Tucker, Steve (ngày 21 tháng 12 năm 2015). "Cardiff City FC holding Extraordinary General Meeting with boardroom shake-up on the agenda". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019.
  49. "Malky Mackay is new City manager". Cardiff City F.C. ngày 17 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013.
  50. "Premier League promotion party starts at Cardiff City after 0-0 draw against Charlton Athletic". The Daily Telegraph. ngày 16 tháng 4 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013.
  51. "Cardiff City 0-0 Charlton Athletic". BBC Sport. ngày 16 tháng 4 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013.
  52. "West Ham United 2-0 Cardiff City". BBC Sport. ngày 18 tháng 8 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2013.
  53. "Malky Mackay: Cardiff City sack manager". BBC Sport. ngày 27 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015.
  54. "Ole Gunnar Solskjaer: Cardiff City hire former Man Utd striker as boss". BBC Sport. ngày 2 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015.
  55. "Newcastle 3-0 Cardiff". BBC Sport. ngày 3 tháng 5 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015.
  56. "Cardiff City: Russell Slade confirmed as new manager". BBC Sport. ngày 6 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014.
  57. "Neil Warnock Appointed as New City Manager". Cardiff City F.C. ngày 5 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2016.
  58. "Huddersfield Town 0-3 Cardiff City". BBC Sport. ngày 7 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2017.
  59. "Cardiff City 2-0 Sheffield United". BBC Sport. ngày 15 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2017.
  60. "Celebrations as Cardiff City return to Premier League". BBC News. ngày 6 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
  61. "Cardiff City relegated: Defeat against Crystal Palace relegates Neil Warnock's side and seals Brighton's Premier League survival". The Independent. ngày 4 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2019.
  62. "Neil Warnock: Manager leaves Cardiff City after three years". BBC Sport. ngày 11 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019.
  63. "Neil Harris: Ex-Millwall boss appointed new Cardiff City manager". BBC Sport. ngày 16 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2020.
  64. Williams, Adam (ngày 30 tháng 7 năm 2020). "Fulham 1-2 Cardiff City". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2020.
  65. "Neil Harris: Cardiff City sack manager after six straight defeats". BBC Sport. ngày 21 tháng 1 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2021.
  66. Williams, Glen (ngày 22 tháng 1 năm 2021). "Cardiff City confirm Mick McCarthy as new manager until the end of the season". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2021.
  67. Pearlman, Michael (ngày 23 tháng 10 năm 2021). "Cardiff City 0-2 Middlesbrough". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2022.
  68. "Cardiff boss Morison given new contract". BBC Sport. ngày 1 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2022.
  69. "Cardiff City sack manager Mark Hudson". BBC Sport. ngày 14 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
  70. The Athletic Staff (ngày 17 tháng 12 năm 2022). "Cardiff under transfer embargo over Sala fee". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2023.
  71. 1 2 "Cardiff City to challenge EFL transfer embargo" (bằng tiếng Anh). BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2023.
  72. "Cardiff report increased losses of £29m" (bằng tiếng Anh). BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2023.
  73. "Erol Bulut appointed as First Team Manager". Cardiff City F.C. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  74. PA Media (ngày 22 tháng 9 năm 2024). "Cardiff sack manager Erol Bulut after bleak start to Championship season". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  75. "Club Statement: Ramsey to take final games". Cardiff City F.C. (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  76. "Cardiff City 0-0 West Bromwich Albion: Bluebirds relegated in draw with Baggies". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  77. "Cardiff City: 'Big changes needed' as owner Vincent Tan blasted". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  78. "Public Statement from the Board of Cardiff City Supporters' Trust". Cardiff City Supporters' Trust (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  79. 1 2 Rogers, Guy; Rookwood, Joel (2007). "Cardiff City Football Club as a Vehicle to Promote Welsh National Identity" (PDF). Journal of Qualitative Research in Sports Studies. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018.
  80. Abbandonato, Paul (ngày 19 tháng 8 năm 2018). "Why the fans and Cardiff City Stadium factor are the Bluebirds' biggest Premier League weapon". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  81. Shepherd 2007, tr. 113
  82. 1 2 Pritchard, Dafydd (ngày 30 tháng 10 năm 2015). "Cardiff City: Why have crowds dwindled despite steady results?". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  83. Sands, Katie (ngày 7 tháng 5 năm 2019). "The attendances Cardiff City can now expect after relegation from the Premier League". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020.
  84. Abbandonato, Paul (ngày 23 tháng 2 năm 2018). "Cardiff City's poor crowds investigated: The facts, the reasons and why the missing fans could yet return". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  85. Goldblatt, David (2014). The Game of Our Lives: The Meaning and Making of English Football. London: Penguin UK. ISBN 978-0241955260. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  86. McLaren, James (ngày 19 tháng 10 năm 2010). "The Stand – I'll Be There". BBC Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  87. 1 2 Woolford, Anthony (ngày 8 tháng 8 năm 2016). "What is the Ayatollah? Why do Cardiff City fans do it? And why did former Swansea City star Jazz Richards spark controversy?". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  88. Williams, Richard (ngày 14 tháng 1 năm 2002). "How doing the Ayatollah became Cardiff's terrace tribute". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  89. "Famous Fans: Nathan Cleverly". English Football League. ngày 25 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  90. "Olympian Davies takes silver in the 'swim of his life'". WalesOnline. Media Wales. ngày 21 tháng 8 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  91. 1 2 3 James, Stuart (ngày 1 tháng 11 năm 2013). "Cardiff and Swansea make Premier League history but hatred continues". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
  92. 1 2 3 4 Herbert, Ian (ngày 3 tháng 11 năm 2013). "Cardiff v Swansea: History and hurt behind the squabble for Welsh rule". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
  93. Owens, David (ngày 5 tháng 3 năm 2014). "'The worst violence I have ever seen anywhere in my life': Football intelligence officer recalls South Wales derby clash". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
  94. Clutton, Graham (ngày 1 tháng 11 năm 2013). "How the once-friendly rivalry between Cardiff City and Swansea City turned poisonous". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
  95. "Rivalry uncovered!" (PDF). Football Fans Census. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2013.
  96. "Confessions of a hooligan". South Wales Echo. ngày 9 tháng 3 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017.
  97. "How Soul Crew became notorious". South Wales Echo. ngày 8 tháng 6 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017.
  98. "Court told how rivalry between Cardiff City and Swansea City fans sparked mass brawl at racecourse". WalesOnline. Media Wales. ngày 13 tháng 11 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017.
  99. "From Sophia to SWALEC". cricket archive.co.uk. Cricinfo. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2008.
  100. 1 2 3 Hayes 2003, tr. 7
  101. "Fans bid farewell to Ninian Park". BBC News. ngày 5 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  102. Hayes 2003, tr. 8
  103. "Bluebirds average attendances". Cardiff City F.C. ngày 8 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010.
  104. Phillips, Terry (ngày 11 tháng 7 năm 2009). "Steve Borley wanted standing areas at Cardiff City Stadium". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  105. "Keep Scunthorpe Standing". Football Supporters' Federation. ngày 23 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  106. 1 2 3 "Bluebirds ground named 'The Cardiff City Stadium'". WalesOnline. Media Wales. ngày 21 tháng 3 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  107. Gaskell, Simon (ngày 17 tháng 6 năm 2013). "Cardiff City unveil plans for 38.000-capacity stadium expansion". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  108. "Cardiff City 4-0 Chasetown". BBC Sport. ngày 11 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  109. "Cardiff City 0-0 Celtic". BBC Sport. ngày 22 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  110. "Cardiff City 4-0 Scunthorpe United". BBC Sport. ngày 8 tháng 8 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  111. "Cardiff teams agree ground share". BBC Sport. ngày 19 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
  112. Doel, Jon (ngày 8 tháng 5 năm 2012). "Cardiff Blues return to Arms Park as Cardiff City consider rebranding". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  113. "Cardiff City's new £12m Ninian Stand to be mothballed less than a year after opening". WalesOnline. Media Wales. ngày 31 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2015.
  114. Abbandonato, Paul (ngày 30 tháng 3 năm 2016). "Cardiff City FC confirm upper Ninian stand to be used for first time this season as 'fantastic fans' flock to Derby game". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
  115. "Cardiff City FC receives Level Playing Field Centre of Excellence Award". Level Playing Field (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2023.
  116. "Cardiff City 2012/13 kits revealed". Cardiff City F.C. ngày 6 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2013.
  117. "Cardiff City to change kit from blue to red amid financial investment". BBC Sport. ngày 6 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  118. "Cardiff City to change kit from blue to red amid financial investment". BBC Sport. ngày 6 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  119. Gaskell, Simon (ngày 8 tháng 6 năm 2012). "Fans and designers criticise Cardiff City's new emblem". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  120. "Thousands of Cardiff City fans march against club's blue to red rebrand". BBC News. ngày 22 tháng 3 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017.
  121. "Cardiff City owner Vincent Tan agrees return to blue home kit". BBC Sport. ngày 9 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015.
  122. James, Stuart (ngày 9 tháng 1 năm 2015). "Cardiff revert to blue kit after Vincent Tan approves change". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017.
  123. "Cardiff City to change kit from blue to red amid financial investment". BBC Sport. ngày 6 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015.
  124. "Cardiff City 2015 crest reveal". Cardiff City F.C. ngày 9 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2015.
  125. "Sponsor removed from City shirts". BBC Sport. ngày 17 tháng 9 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2020.
  126. "First Team". Cardiff City F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  127. Blake, Nathan (ngày 19 tháng 4 năm 2017). "Cardiff City's academy must start producing if the Bluebirds want to compete with the Premier League big boys". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2017.
  128. "Dick Bate named new Cardiff Academy boss". BBC Sport. ngày 2 tháng 11 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2017.
  129. Kelly, Ciaran (ngày 14 tháng 6 năm 2016). "Parents of Wales defender James Collins, from Newport, cheer him on in Euros". South Wales Argus. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2019.
  130. Hayes 2006, tr. 53-54
  131. "Management". Cardiff City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  132. 1 2 3 4 "Cardiff City Manager History". Soccerbase.com. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  133. Shepherd 2002, tr. 15-33
  134. Shepherd 2002, tr. 104-113
  135. Aron Gunnarsson tại National-Football-Teams.com
  136. Hayes 2006, tr. 218-219
  137. Abbandonato, Paul (ngày 19 tháng 1 năm 2019). "Cardiff City announce signing of goal ace Emiliano Sala in club record £15m deal". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2019.
  138. Doel, Jon (ngày 7 tháng 2 năm 2019). "Emiliano Sala confirmed dead as body in plane wreckage formally identified". WalesOnline. Media Wales. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2019.
  139. "Inter Milan: Cardiff City's Gary Medel joins club for £10m". BBC Sport. ngày 9 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014.
  140. "Club records". Cardiff City F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  141. "Cardiff City football club honours". 11vs11.com. AFS Enterprises. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  142. Shepherd 2002, tr. 16

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Cardiff City F.C.

Bản mẫu:Câu lạc bộ Wales ở Football League Bản mẫu:Thể thao Cardiff