Bước tới nội dung

Apollo 17

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Apollo 17
Eugene Cernan trên xe chạy trên Mặt Trăng (Lunar Roving Vehicle) trong EVA đầu tiên của Apollo 17
Dạng nhiệm vụHạ cánh trên Mặt Trăng
Nhà đầu tưNASA[1]
COSPAR ID
  • CSM: 1972-096A
  • LM: 1972-096C
Số SATCAT
  • CSM: 6300
  • LM: 6307
Thời gian nhiệm vụ12 ngày, 13 giờ, 51 phút, 59 giây
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Thiết bị vũ trụ
Nhà sản xuất
Khối lượng phóng48.607 kilôgam (107.161 lb)
Khối lượng hạ cánh5.500 kilôgam (12.120 lb)
Phi hành đoàn
Quy mô phi hành đoàn3
Thành viên
Tín hiệu gọi
  • CSM: America
  • LM: Challenger
EVA1 in cislunar space
Plus 3 on the lunar surface
Thời gian EVA1 giờ, 5 phút, 44 giây
Spacewalk to retrieve film cassettes
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóng05:33:00 7/12/1972
Tên lửaSaturn V SA-512
Địa điểm phóngKennedy LC-39A
Kết thúc nhiệm vụ
Thu hồi bởiUSS Ticonderoga
Ngày hạ cánhNgày 19 tháng 12 năm 1972, 19:24:59 (Ngày 19 tháng 12 năm 1972, 19:24:59) UTC
Nơi hạ cánhNam Thái Bình Dương
17°53′N 166°07′T / 17,88°N 166,11°T / -17.88; -166.11 (Apollo 17 splashdown)
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếuSelenocentric
Cận điểm26,9 kilômét (14,5 nmi)
Viễn điểm109,3 kilômét (59,0 nmi)
Kỷ nguyênNgày 11 tháng 12, 4:04 UTC
Phi thuyền quỹ đạo Mặt Trăng
Thành phần phi thuyềnCommand/Service Module
Vào quỹ đạoNgày 10 tháng 12 năm 1972, 19:47:22 UTC
Rời khỏi quỹ đạoNgày 16 tháng 12 năm 1972, 23:35:09 UTC
Quỹ đạo75
Tàu đổ bộ Mặt Trăng
Thành phần phi thuyềnLunar Module
Thời điểm hạ cánhNgày 11 tháng 12 năm 1972, 19:54:57 UTC
Phóng trở lạiNgày 14 tháng 12 năm 1972, 22:54:37 UTC
Địa điểm hạ cánh20°11′27″B 30°46′18″Đ / 20,1908°B 30,7717°Đ / 20.1908; 30.7717[2]
Khối lượng mẫu vật110,52 kilôgam (243,7 lb)
EVA bề mặt3
Thời gian EVA
  • 22 giờ, 3 phút, 57 giây
  • Lúc đầu: 7 giờ, 11 phút, 53 giây
  • Thứ 2: 7 giờ, 36 phút, 56 giây
  • Thứ 3: 7 giờ, 15 phút, 8 giây
Xe tự hành Mặt Trăng
Khoảng cách đi được35,74 kilômét (22,21 mi)
Dock với LM
Ngày dockNgày 7 tháng 12 năm 1972, 09:30:10 UTC
Ngày ngắt dockNgày 11 tháng 12 năm 1972, 17:20:56 UTC
Dock với LM Ascent Stage
Ngày dockNgày 15 tháng 12 năm 1972, 01:10:15 UTC
Ngày ngắt dockNgày 15 tháng 12 năm 1972, 04:51:31 UTC
Trọng tải
Khối lượng
  • SIM:
  • ALSEP:
  • LRV: 463 pound (210 kg)

Từ trái qua: Schmitt, Cernan (ngồi), Evans 
Ảnh chụp Eugene Cernan trên Mặt Trăng

Apollo 17 (7–19 tháng 12 năm 1972) là sứ mệnh có người lái thứ mười một và cũng là cuối cùng trong chương trình Apollo của NASA, đồng thời là lần thứ sáu và gần đây nhất con người đặt chân lên Mặt Trăng.Trong chuyến bay này, chỉ huy Gene Cernan và phi công mô-đun Mặt Trăng Harrison Schmitt đã đi bộ trên bề mặt Mặt Trăng, còn phi công mô-đun chỉ huy Ronald Evans ở lại bay trên quỹ đạo. Schmitt trở thành nhà địa chất chuyên nghiệp duy nhất từng lên Mặt Trăng — ông được chọn thay cho Joe Engle vì NASA chịu áp lực phải cử ít nhất một nhà khoa học tham gia. Do chú trọng đặc biệt vào nghiên cứu, sứ mệnh mang theo nhiều thí nghiệm mới, trong đó có một thí nghiệm sinh học nuôi năm con chuột trên mô-đun chỉ huy và dịch vụ.

Khi chọn địa điểm hạ cánh, các nhà hoạch định sứ mệnh có hai mục tiêu chính: lấy mẫu đất đá từ vùng cao nguyên Mặt Trăng — loại đá cổ hơn so với những gì tìm thấy ở Biển Mưa — và tìm hiểu xem liệu có hoạt động núi lửa nào xảy ra tương đối gần đây trên Mặt Trăng hay không. Vì vậy, họ chọn Taurus–Littrow làm nơi hạ cánh, bởi các cấu trúc địa hình tại đây đã được quan sát và chụp ảnh từ quỹ đạo Mặt Trăng, và được cho là có nguồn gốc núi lửa. Do cả ba thành viên phi hành đoàn đều từng làm dự bị cho các sứ mệnh Apollo trước đó, họ đã rất quen thuộc với tàu Apollo và có thêm nhiều thời gian để được đào tạo về địa chất.

Apollo 17 được phóng lúc 12 giờ 33 phút sáng (giờ chuẩn miền Đông) ngày 7 tháng 12 năm 1972. Đây là lần trì hoãn phóng duy nhất trong lịch sử chương trình Apollo, nguyên nhân do một sự cố phần cứng. Apollo 17 thuộc sứ mệnh loại "J" — loại sứ mệnh cao cấp nhất của Apollo, cho phép phi hành gia ở lại Mặt Trăng ba ngày, mang theo nhiều thiết bị khoa học hơn và sử dụng chiếc xe thám hiểm Mặt Trăng thứ ba. Cernan và Schmitt hạ cánh tại thung lũng Taurus–Littrow. Trong ba ngày trên Mặt Trăng, họ thực hiện ba lần đi bộ ngoài tàu, thu thập mẫu đất đá và lắp đặt các thiết bị khoa học. Phát hiện đáng chú ý nhất là lớp đất màu cam tại hố Shorty — phân tích cho thấy đây là đất núi lửa, tuy nhiên nó được hình thành từ thuở sơ khai của Mặt Trăng chứ không phải gần đây. Trong lúc đó, Evans ở trên quỹ đạo Mặt Trăng, thực hiện các phép đo khoa học và chụp ảnh từ mô-đun chỉ huy. Tàu quay về Trái Đất an toàn vào ngày 19 tháng 12.

Phi hành đoàn

[sửa | sửa mã nguồn]
ㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤ

Năm 1969, NASA công bố rằng phi hành đoàn dự phòng của Apollo 14, dự kiến bay vào năm 1971, sẽ là Eugene Cernan, Ronald Evans và cựu phi công X-15 Joe Engle (người đã thực hiện 16 chuyến bay trên X-15 đã ba lần đưa anh ta vượt qua biên giới không gian 50 dặm (80 km)). Bởi vì chương trình Apollo thường dự kiến một phi hành đoàn dự phòng sẽ bay với tư cách là phi hành đoàn chính trong ba nhiệm vụ sau đó, Cernan, Evans và Engle được xếp hàng để trở thành phi hành đoàn chính của Apollo 17. Trong khi đó, Harrison Schmitt - một nhà địa chất chuyên nghiệp - được chỉ định làm phi hành đoàn dự phòng của Apollo 15 và dự kiến bay với tư cách là Phi công Mô-đun Mặt trăng trên Apollo 18.

Tuy nhiên, Apollo 18 đã bị hủy bỏ vào tháng 9 năm 1970. Cộng đồng khoa học sau đó đã thúc ép NASA tìm cách chỉ định một nhà địa chất - chứ không chỉ là một phi công được đào tạo về địa chất - tham gia một chuyến hạ cánh của Apollo. Vì vậy, NASA đã chỉ định Schmitt làm Phi công Mô-đun Mặt trăng của Apollo 17.

Điều đó mở ra câu hỏi ai sẽ lấp đầy hai chỗ trống khác của Apollo 17: phần còn lại của phi hành đoàn dự phòng Apollo 15 (Dick Gordon và Vance Brand) hoặc phi hành đoàn dự phòng Apollo 14 (trừ Engle). Cuối cùng, Giám đốc Điều hành Phi hành đoàn của NASA Deke Slayton đã chọn Cernan và Evans.[3]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Orloff, Richard W. (tháng 9 năm 2004) [First published 2000]. "Table of Contents". Apollo by the Numbers: A Statistical Reference. NASA History Series. Washington, D.C.: NASA. ISBN 0-16-050631-X. LCCN 00061677. NASA SP-2000-4029. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2013. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua |work= (trợ giúp)
  2. "NASA NSSDC Master Catalog - Apollo 17 descent stage". Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011.
  3. "A Running Start – Apollo 17 up to Powered Descent Initiation". Apollo Lunar Surface Journal. Archived from the original on ngày 20 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2011.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]